Đặt vấn đề nghiên cứu Ngành công nghiệp xây dựng từ trước đến nay được xem là ngành có vô vàn các thách thức như quản lý nguồn lực, quản lý rủi ro, quản lý trao đổi thông tin… dẫn đến lỗi thiết kế, làm lại, chậm tiến độ, vượt chi phí. Theo báo cáo của McKinsey, các dự án quy mô lớn thường vượt tiến độ hơn 20% so với kế hoạch và vượt 80% chi phí dự toán ban đầu (Agarwal, Chandrasekaran, & Sridhar, 2016). Trong khi đó, năng suất của ngành xây dựng cũng thấp hơn 30% so với mức năng suất trung bình toàn cầu. Nếu mức năng suất này được cải thiện bằng năng suất trung bình toàn cầu, nó sẽ đáp ứng được 50% tổng nhu cầu về cơ sở hạ tầng.
Bên cạnh đó, ngành công nghiệp xây dựng cũng được xem là ngành chậm chuyển đổi, tiếp cận với những công nghệ hiện đại và ứng dụng số - một trong những lý do làm cho năng suất lao động - trong suốt ba thập kỷ qua - thấp hơn nếu so sánh với các ngành công nghiệp khác như ô tô, tài chính hay giáo dục (Chidambaram, 2020). Các dự án xây dựng đặc trưng bởi nhiều mối quan hệ, quy trình rời rạc của các bên liên quan là nguyên nhân chính dẫn đến hiệu suất kém (Hartmann, Fischer, & Haymaker, 2009). Tối đa hóa năng suất của các bên liên quan là một trong những thách thức của ngành. Một dự án thành công đòi hỏi mức độ phối hợp, cộng tác và giao tiếp tốt.
Về cơ bản, tại những thời điểm quan trọng trong quá trình thực hiện dự án thì chất lượng giao tiếp và phối hợp tốt là cần thiết để đảm bảo thông tin phù hợp được truyền đạt đến người thích hợp ở thời gian hợp lý (Chidambaram, 2020). Để giải quyết vấn đề này, nhiều phương án tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau được đề xuất. Trong vài thập kỷ qua, nổi bật nhất trong số các phương pháp tiếp cận GVHD: TS. NGUYỄN ANH THƯ HVTH: TRỊNH HOÀNG ANH [LUẬN VĂN THẠC SĨ] 2 này là khái niệm Mô hình thông tin công trình (BIM) (Cao et al.
BIM là sự thể hiện kỹ thuật số của quá trình xây dựng, nó là kho lưu trữ thông tin của dự án, áp dụng cách tiếp cận lấy dữ liệu làm trung tâm để liên kết các bên liên quan trong vòng đời dự án, nhằm hỗ trợ tích hợp đa ngành (Miettinen & Paavola, 2014). BIM có thể được sử dụng trong một số lĩnh vực như ước tính chi phí, phân tích bền vững, phát hiện các xung đột, lập kế hoạch xây dựng, gia công tiền chế (Guo, Li, & Skitmore, 2010; Hartmann, Gao, & Fischer, 2008). Nhiều quốc gia ban hành hàng loạt chính sách thúc đẩy triển khai BIM. Ví dụ, chính phủ Singapore yêu cầu kể từ năm 2015, tất cả các dự án có diện tích trên 5.000 m2 phải sử dụng hồ sơ điện tử BIM.
Chính phủ Vương quốc Anh đã thiết kế một chiến lược triển khai BIM dài hạn, bao gồm ba cấp độ, bao trùm các loại hình khác nhau và toàn bộ vòng đời của các dự án xây dựng (Khosrowshahi & Arayici, 2012). Hàn Quốc yêu cầu tất cả các dự án công lớn (trên 50 triệu USD) phải triển khai BIM từ năm 2016 (Lee & Yu, 2016). Mặc dù Hoa Kỳ không có quy định rõ ràng về việc thực hiện BIM ở cấp độ quản lý nhà nước nhưng nhiều chiến lược cấp công nghiệp đã được đề xuất để thúc đẩy việc áp dụng BIM (Cheng & Lu, 2015). Tại Việt Nam, BIM đã được đề cập trong Luật Xây Dựng số 50/2014/QH13 vào năm 2014; đề án ứng dụng BIM đã được triển khai theo Quyết định số 2500/QĐ-TTg phê duyệt năm 2016 (Quách, 2021).
Năm 2021 Bộ Xây Dựng cũng đã ban hành hai quyết định số 347 và 348/QĐ-BXD về việc hướng dẫn việc áp dụng BIM cho công trình dân dụng và hạ tầng kỹ thuật đô thị. Về cấu trúc của công trình xây dựng, đây là sự kết hợp của rất nhiều thành phần khác nhau như kiến trúc, kết cấu, MEP, PCCC, hạ tầng…nên nhiệm vụ rất quan trọng của người thiết kế là phối hợp, điều phối về bố cục, kích thước của các thành phần trên để hạn chế tối đa xung đột giữa các bên. Xung đột được xác định và xử lý càng sớm thì chi phí phát sinh ra sẽ càng ít. Theo một thống kê, hơn 80% những thất bại trong dự án xây dựng bắt nguồn từ lỗi thiết kế (Lopez, Love, Edwards, & Davis, 2010) và 46% chi phí phát sinh xảy ra ở giai đoạn thiết kế (Love, Edwards, Smith, & Walker, 2009).
Do đó việc phối hợp từ giai đoạn thiết kế và quản lý xung đột là rất quan trọng đối với thành công của một dự án. NGUYỄN ANH THƯ HVTH: TRỊNH HOÀNG ANH [LUẬN VĂN THẠC SĨ] 3 Thiết kế cốt thép rất quan trọng và cần thiết trong thiết kế kết cấu bê tông cốt thép (BTCT). Bên cạnh đó việc thiết kế cũng cần đảm bảo an toàn, đúng tiêu chuẩn, có thể thi công, tiết kiệm. Hiện nay, việc thiết kế cốt thép được tính toán thủ công hoặc bán tự động bằng các phần mềm như CSI ETABS và Autodesk Robot Structural Analysis (RSA).
Tính toán thủ công mất nhiều thời gian và đôi khi dẫn đến sai sót, thiết kế quá thừa hoặc thiết kế chưa đảm bảo. Tính toán bằng phần mềm giúp quá trình thiết kế nhanh hơn nhưng vẫn cần nỗ lực của con người để bố trí cốt thép (Mangal & Cheng, 2018). Trong giai đoạn thiết kế chi tiết, bố trí cốt thép là công việc tốn nhiều thời gian và công sức lao động (Liu et al., 2021; Momeni, Relefors, Pettersson, Papadopoulos, & Nolte, 2022). Kết quả của việc bố trí cốt thép có thể bị ảnh hưởng từ xung đột cốt thép (xung đột cứng) hoặc tắc nghẽn cốt thép (xung đột mềm) (Liu et al.1 Hình ảnh bố trí thép (Discoveries, 2023) Xung đột hay tắt nghẽn cốt thép thường xảy ra tại các nút giao của các cấu kiện, nơi phải tuân thủ theo tiêu chuẩn thiết kế để đảm bảo an toàn.
Tại công trường, công nhân thường bố trí cốt thép theo bản vẽ thiết kế nếu không có xung đột giữa các thanh cốt thép. Một khi có xung đột xảy ra, người kỹ sư và công nhân phải xác định thanh thép xung đột và điều chỉnh vị trí để tránh xung đột. Cách tiếp cận này gây tốn nhiều GVHD: TS. NGUYỄN ANH THƯ HVTH: TRỊNH HOÀNG ANH [LUẬN VĂN THẠC SĨ] 4 thời gian và ảnh hưởng đến chất lượng cũng như chi phí xây dựng (Liu, Xu, Ao, Feng, & Wu, 2018; Mangal, Li, Gan, & Cheng, 2021) Sẽ không thực tế và tốn nhiều công sức để bố trí cốt thép tránh tất cả các xung đột bằng phương pháp thử-sai thủ công hoặc ngay cả được sự trợ giúp của các phần mềm hiện có.
Hiện nay mặc dù có một số chương trình giúp phát hiện xung đột như Autodesk Navisworks Manage, Solibri Model Checker có thể phát hiện và trực quan hóa các thành phần xung đột (Wang & Leite, 2016) nhưng chúng chủ yếu tập trung vào việc phát hiện xung đột của các cấu kiện và MEP. Những phần mềm trên chưa thể tự động tránh các xung đột cốt thép hoặc đưa ra các giải pháp để bố trí lại cốt thép không có xung đột. Vấn đề tối ưu hóa trong bố trí cốt thép là một bài toán đa thức không xác định (Nondeterminitic Polynimial NP-hard) bởi vì độ phức tạp về không gian và thời gian tính toán (Mangal et al. Các thuật toán tiến hóa (Evolutionary Algorithms, EA) đã được chứng minh là có hiệu quả để giải các vấn đề NP-hard như Thuật toán di truyền (GA), Tối ưu hóa đàn kiến (ACO), Tối ưu hóa đàn hạt (PSO).
Với khả năng xác định các giải pháp tối ưu trong bài toán không gian lớn, đa mục tiêu, phức tạp, các thuật toán EA được xem như một công cụ hứa hẹn để giải quyết các bài toán về bố trí quy hoạch trong các công trình xây dựng. Tóm lại, việc tiếp cận vấn đề tự động bố trí cốt thép không xung đột trong khung BTCT ngay từ giai đoạn thiết kế sẽ góp phần làm giảm vấn đề sửa chữa, làm lại tại công trường; dẫn đến việc giảm kiểm tra lại hay thậm chí là thiết kế lại. Đây là một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến chậm trễ tiến độ và tăng chi phí xây dựng. Bên cạnh đó, việc ứng dụng BIM trong tự động bố trí cốt thép giúp tiết kiệm thời gian triển khai, khai thác tốt thông tin của công trình và tăng cường sự phối hợp giữa các bên liên quan trong dự án xây dựng.
Với những lợi ích được đề cập phía trên, luận văn này hướng đến việc tìm kiếm một phương pháp có thể ứng dụng BIM và thuật toán tiến hóa để tự động bố trí cốt thép tránh xung đột áp dụng trong giai đoạn thiết kế. NGUYỄN ANH THƯ HVTH: TRỊNH HOÀNG ANH [LUẬN VĂN THẠC SĨ] 5 1. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chính của đề tài là xây dựng giải pháp tối ưu tự động bố trí cốt thép tránh xung đột trong cấu kiện BTCT có sự kết hợp dữ liệu từ mô hình BIM và thuật toán tiến hóa. Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu của đề tài, các module và câu hỏi liên quan dưới đây sẽ được nghiên cứu: - Nhận biết và phân loại những xung đột; xung đột cốt thép trong giai đoạn thiết kế.
- Xây dựng công thức xác định vị trí tối ưu trong bố trí cốt thép tránh xung đột và module tối ưu hóa trong bố trí cốt thép tránh xung đột. - Kiểm tra sơ đồ bố trí cốt thép tránh xung đột phù hợp với tiêu chuẩn thiết kế BTCT tại Việt Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu phương pháp xác định vị trí bố trí thép tối ưu tại nơi giao nhau của các cấu kiện BTCT; xác định và xây dựng các hàm mục tiêu để giải quyết vấn đề xung đột trong công tác bố trí thép hiện tại. Nghiên cứu thuật toán tiến hóa (EAs), cụ thể là thuật Di truyền tiến hóa không trội (NSGA_II) và cách áp dụng thuật toán để giải quyết vấn đề bố trí cốt thép không xung đột.
Nghiên cứu kết hợp các ứng dụng trong của Mô hình thông tin công trình (BIM) và EAs để tối ưu hóa bố trí cốt thép tránh xung đột.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu áp dụng các công trình xây dựng dân dụng, hạ tầng bằng BTCT tại Thành phố Hồ Chí Minh, đáp ứng theo tiêu chuẩn thiết kế của Việt Nam TCVN 5574:2018. NGUYỄN ANH THƯ HVTH: TRỊNH HOÀNG ANH [LUẬN VĂN THẠC SĨ] 6 Nghiên cứu tập trung vào những xung đột của cốt thép có đường kính lớn hơn 12mm tại điểm giao nhau giữa các cấu kiện BTCT trong công trình xây dựng ở giai đoạn thiết kế.