ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đƣờng (ĐTĐ) là một bệnh mãn tính phổ biến nhất hiện nay do việc sản xuất thiếu insulin hoặc insulin hoạt động không hiệu quả với nhiều hậu quả lâu dài (1). Theo Liên đoàn Đái tháo đƣờng Thế giới (IDF), số ngƣời mắc ĐTĐ tăng mạnh từ 382 triệu ngƣời bệnh (NB) ĐTĐ năm 2013 lên 415 triệu ngƣời năm 2015 và dự kiến là 642 triệu ngƣời năm 2040 (2). Nói cách khác, vào năm 2040, cứ 10 ngƣời trƣởng thành sẽ có 1 ngƣời mắc ĐTĐ. Về ĐTD type 2, số ngƣời mắc vào năm 2017 ƣớc tính là 462 triệu ngƣời hay tƣơng đƣơng với 6,28% dân số thế giới.
Theo nhóm tuổi, tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 lần lƣợt là 4,4% ở nhóm tuổi 15-49, 15% ở nhóm tuổi 50-60 và 22% ở nhóm tuổi ≥70 (1). Ƣớc tính tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 sẽ tăng mạnh lên 7079 ngƣời/100.000 dân vào năm 2030, trong đó tỷ lệ tăng nhanh hơn ở các nƣớc có thu nhập thấp và trung bình (1). Tại Việt Nam, theo báo cáo của IDF, có ít nhất 3,53 triệu NB ĐTĐ năm 2017 và con số này sẽ tăng lên 6,1 triệu ngƣời vào năm 2040 (3). Trong vòng 10 năm trở lại đây, tỉ lệ gia tăng NB ĐTĐ ở Việt Nam là 211%, cao hơn 3 lần so với tốc độ tăng của thế giới (70%) (3).
Tỷ lệ NB ĐTĐ type 2 thƣờng chiếm từ 90-95% trong tổng số NB ĐTĐ. Trƣớc đây, bệnh ĐTĐ type 2 thƣờng xuất hiện ở những ngƣời trƣởng thành trên 45 tuổi nhƣng hiện tại NB ở lứa tuổi trẻ ngày càng nhiều, thậm chí ở nhóm 11-15 tuổi. Đồng thời, NB ĐTĐ type 2 tăng mạnh không chỉ tại thành phố lớn nhƣ Hà Nội mà ở cả tỉnh miền núi nhƣ Phú Thọ (4). D số ngƣời mắc ĐTĐ cao nhƣng 68,9% ngƣời mắc ĐTĐ chƣa đƣợc phát hiện (5).
Bệnh ĐTĐ cần đƣợc tuân thủ điều trị (TTĐT) nếu không bệnh có thể gây ra các biến chứng làm giảm chất lƣợng cuộc sống, tàn tật nặng nề và có thể tử vong ở ngƣời mắc (1). Tuy vậy, việc tuân thủ điều trị còn rất hạn chế và đa số không đạt đƣợc mục tiêu điều trị (5, 6). Nghiên cứu của Sontakke và cộng sự năm 2015 cho thấy 70% NB ĐTĐ type 2 không tuân thủ lịch trình sử dụng thuốc bao gồm không d ng đủ tất cả các loại thuốc (58,7%), không d ng đúng liều lƣợng quy định (34%), tự ý mua thêm thuốc khi không có chỉ định của bác sĩ (30%) và không sử dụng thuốc đúng thời gian yêu cầu (25,3%) (7). Ở Việt Nam, nghiên cứu của Đỗ Văn 2 Doanh năm 2016 cho thấy tỷ lệ NB ĐTĐ tuân thủ cả 4 tiêu chí chỉ đạt 5,1%, trong đó tuân thủ sử dụng thuốc 69,2%, hoạt động thể lực 66,7%, dinh dƣỡng 58,1%, kiểm tra đƣờng huyết tại nhà và tái khám định kỳ là 26,8% (8).
Nghiên cứu của Lê Thị Nhật Lệ năm 2017 cho thấy tỷ lệ NB ĐTĐ type 2 tuân thủ sử dụng thuốc 70,8%, tuân thủ dinh dƣỡng 40,5%, tuân thủ hoạt động thể lực 48,7%, tuân thủ theo dõi đƣờng huyết và khám sức khỏe định kỳ 26,1% (9). Các kết quả này cho thấy một thực tế là còn khá nhiều NB ĐTĐ type 2 chƣa TTĐT và cần tăng cƣờng các can thiệp nhằm nâng cao tỷ lệ tuân thủ. Gò Vấp là quận nằm ở Tây Bắc của thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM). Năm 2019, quận Gò Vấp có khoảng 680.000 dân với tổng diện tích 19,75 km².
Phƣờng 11 là một trong những phƣờng có mật độ dân số đông với dân số là 63. Trong những năm gần đây, với tốc độ đô thị hóa nhanh đi kèm với lối sống thiếu lành mạnh nhƣ ăn nhiều chất béo, lƣời vận động,… làm tỷ lệ mắc các bệnh không lây nhiễm trong đó có đái tháo đƣờng của ngƣời dân trong phƣờng ngày một tăng cao. Số lƣợng ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 đƣợc quản lý và điều trị ngoại trú tăng dần với 680 ca năm 2021. Ngoài ra, trong năm 2021 khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát, NB ĐTĐ gặp nhiều khó khăn trong điều trị khi quận Gò Vấp l phải tập trung nguồn lực cho phòng bệnh.
Bƣớc vào năm 2022 khi dịch COVID-19 đã đƣợc kiểm soát, số lƣợng ngƣời mắc bệnh tăng và phân bố rộng ở nhiều độ tuổi trong khi đó nhân lực của Trạm Y tế phƣờng 11 chỉ có 6 nhân viên. Các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe để hỗ trợ cho đối tƣợng cũng rất hạn chế, công tác giám sát về tuân thủ điều trị còn nhiều khó khăn. Nhiều ngƣời bệnh chƣa tuân thủ điều trị về thuốc, về chế độ ăn, hoạt động thể lực và theo dõi đƣờng huyết. Câu hỏi đƣợc đặt ra là thực trạng tuân thủ điều trị hiện tại của NB ĐTĐ type 2 tại phƣờng 11 hiện ra sao? Và đâu là nguyên nhân dẫn tới thực trạng tuân thủ thấp của những đối tƣợng này.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Tuân thủ điều trị đái tháo đường type 2 và một số yếu tố liên quan ở người bệnh ngoại trú tại Trạm Y tế phường 11, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả tuân thủ điều trị đái tháo đƣờng type 2 ở ngƣời bệnh ngoại trú tại Trạm y tế phƣờng 11, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022. Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị đái tháo đƣờng type 2 ở ngƣời bệnh ngoại trú tại Trạm y tế phƣờng 11, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm chính 1. Khái niệm bệnh đái tháo đường Bệnh đái tháo đường: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh ĐTĐ là một bệnh mãn tính gây ra do thiếu insulin của tụy hoặc tác dụng của insulin không hiệu quả do nguyên nhân mắc phải hoặc do di truyền với hậu quả tăng glucose máu. Tăng glucose máu gây tổn thƣơng nhiều hệ thống cơ thể, đặc biệt là hệ thống mạch máu và thần kinh (10).
Nói cách khác, ĐTĐ là một tập hợp các bệnh chuyển hóa đƣợc đặc trƣng bởi tăng đƣờng máu mạn tính do hậu quả của sự thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của insulin hoặc kết hợp cả hai nguyên nhân trên (11). Khái niệm tuân thủ điều trị Theo WHO, tuân thủ điều trị của ngƣời bệnh ĐTĐ là sự kết hợp của 4 biện pháp: Chế độ dinh dưỡng, chế độ hoạt động thể lực, chế độ sử dụng thuốc, chế độ theo dõi đường huyết và khám sức khỏe định kỳ (12). Phân loại đái tháo đường - Đái tháo đường type 1: ĐTĐ type 1 chiếm khoảng 5-10% số những ngƣời bị ĐTĐ. Nguyên nhân ĐTĐ type 1 là do tế bào β của tuyến tụy bị phá hủy, thƣờng dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối (13),(14).
- Đái tháo đường type 2: là loại phổ biến nhất, chiếm khoảng 90% trong tất cả các trƣờng hợp ĐTĐ. Bệnh ĐTĐ type 2 không phụ thuộc insulin và khởi phát ở ngƣời trƣởng thành. ĐTĐ type 2 là kết quả của sự kết hợp của các yếu tố di truyền, môi trƣờng, lối sống, thừa cân, tăng huyết áp và cholesterol cao (13),(14). - Đái tháo đường thai kỳ: xảy ra ở phụ nữ mang thai ở tuần 24-28 (13),(14).
- Đái tháo đường thứ phát và thể bệnh chuyên biệt ĐTĐ: các loại ĐTĐ này chỉ chiếm khoảng 2% trong tất cả các trƣờng hợp ĐTĐ (13),(14). Chẩn đoán bệnh đái tháo đường Năm 2018, theo khuyến cáo của Hiệp hội Đái tháo đƣờng Hoa Kỳ ( D : The merican Diabetes ssociation) và đƣợc sự đồng thuận của WHO (World Health Organization), chẩn đoán ĐTĐ khi có ít nhất một trong bốn tiêu chuẩn sau: 5 - Tiêu chuẩn 1: Đƣờng huyết đói (FPG: fasting plasma glucose) > 126mg/dl (≈7. Đƣờng huyết đói đƣợc định nghĩa là đƣờng huyết khi đo ở thời điểm nhịn đói ít nhất 8 giờ (15), (16). - Tiêu chuẩn 2: Đƣờng huyết 2 giờ (2-h PG - 2-h plasma glucose) > 200mg/dl (≈11.1mmol/l) khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose (15), (16).
- Tiêu chuẩn 3: chỉ số HbA1c > 6. - Tiêu chuẩn 4: Ngƣời bệnh có triệu chứng kinh điển điển của tăng glucose (ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều và gầy nhiều) hay tăng đƣờng huyết trầm trọng kèm theo xét nghiệm đƣờng huyết ngẫu nhiên > 200mg/dl (≈11. Tại Việt Nam, theo hƣớng dẫn mới nhất của Bộ Y tế năm 2020 (5481/QĐ-BYT), chẩn đoán xác định nếu có 2 kết quả trên ngƣỡng chẩn đoán trong c ng 1 mẫu máu xét nghiệm hoặc ở 2 thời điểm khác nhau đối với tiêu chí 1, 2, hoặc 3; riêng tiêu chí 4: chỉ cần một lần xét nghiệm duy nhất (17). Điều trị đái tháo đường Mục tiêu điều trị của NB ĐTĐ phải đạt đƣợc 5 yếu tố sau: - Kiểm soát đƣờng máu càng gần với giới hạn bình thƣờng càng tốt.
Các chỉ số cần đạt trong điều trị ĐTĐ type 2 nhƣ sau: Glucose máu ngƣời lớn lúc đói cần ổn định ở mức từ 70 - 130 mg/dL. Đỉnh glucose máu sau ăn <180 mg/dL (1 - 2 giờ sau khi ăn). - Phòng các biến chứng thông qua tuân thủ sử dụng thuốc, tái khám định kỳ, kiểm tra đƣờng huyết. - Cải thiện chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh bằng thay đổi lối sống, tập luyện, dinh dƣỡng hợp lý - Chế độ dinh dƣỡng hợp lý với mục tiêu: giảm trọng lƣợng cơ thể đối với ngƣời thừa cân - béo phì, duy trì cân nặng lý tƣởng.
Các tiêu chuẩn phân loại thừa cân béo phì nhƣ sau: BMI từ 18,5 - 22,9 kg/m2: bình thƣờng BMI từ 23,0 - 24,9 kg/m2: thừa cân 6 BMI ≥ 25,0 kg/m2: béo phì. Tuân thủ điều trị Tuân thủ điều trị đái tháo đường gồm 5 nội dung là (1) Chế độ dinh dƣỡng; (2) Sử dụng rƣợu bia, thuốc lá; (3) Hoạt động thể lực; (4) Sử dụng thuốc; (5) Theo dõi đƣờng huyết và tái khám định kỳ (17). Chế độ dinh dưỡng dựa trên nguyên tắc là đảm bảo cung cấp đủ dinh dƣỡng cân bằng cả về số lƣợng và chất lƣợng, không làm tăng đƣờng huyết nhiều sau ăn, không làm hạ đƣờng huyết xa bữa ăn, duy trì hoạt động thể lực bình thƣờng, duy trì cân nặng hợp lý, không làm tăng các yếu tố nguy cơ nhƣ: tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa Lipid máu, không thay đổi quá nhanh và quá nhiều cơ cấu và khối lƣợng bữa ăn, đơn giản phù hợp túi tiền và phong tục của địa phƣơng. Năng lƣợng đƣợc cung cấp từ thực phẩm nên phân bổ là Glucid: 50 - 60%, Lipid: 20 - 30% và Protein: 15 - 20% (17).
Hoạt động thể lực: BN đái tháo đƣờng nên đƣợc kiểm tra các biến chứng có thể ảnh hƣởng bởi vận động thể lực cƣờng độ cao: bệnh mạch vành, bệnh võng mạc, bệnh thần kinh ngoại biên và biến chứng bàn chân đái tháo đƣờng.