CHƯƠNG 1. THƠ NGUYỄN PHONG VIỆT TRONG DÒNG CHẢY TƯ DUY THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1. Quan niệm về tư duy nghệ thuật và tư duy thơ 1. Quan niệm về tư duy nghệ thuật Là phương thức thuộc lĩnh vực sáng tạo của chủ thể thẩm mĩ, tư duy nghệ thuật “là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật” [29, tr.
Bản chất của hình thái tư duy nghệ thuật thuộc về hoạt động tinh thần của chủ thể trong nhận thức và chiếm lĩnh thế giới hiện thực thẩm mĩ. Nói một cách khác, đây là sự chuyển hóa giữa chủ thể và khách thể diễn ra trên trục tư duy nghệ thuật và tư duy hình tượng. Hoạt động này được chuyên môn hóa trong trường thể loại sẽ tạo thành những đặc trưng nghệ thuật mang tính đặc thù. Theo đó, tư duy nghệ thuật là một bộ phận của hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hóa hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ.
Phương tiện của nó là các hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, tượng trưng trên cơ chế trực quan hóa. Cơ sở của nó là tình cảm. Đây là một dạng hoạt động chuyên môn hóa mang đậm cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Dấu hiệu của tư duy nghệ thuật là: ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới việc nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên - cái có thể có và cái có thể không thể.
Chính nhờ đặc điểm này mà nội dung khái quát của nghệ thuật vừa mang tính phổ quát vừa mang tính cá biệt. Do đó, trí tưởng tượng sáng tạo còn là chất xúc tác cho chuỗi hoạt động tư duy nghệ thuật hoạt nhất trong các trường thẩm mĩ. Từ điểm tựa này, nghệ sĩ xây dựng các giả thiết, làm sáng rõ các vấn đề còn bị che khuất của thực tại, tạo ra các “khoảng trống” cho văn bản. Với đặc điểm trên, tính cấu trúc của tư duy nghệ thuật gắn với năng lực nhìn thấy thế giới một cách sinh động, lưu giữ bản chất của đối tượng qua những dấu hiệu phát sinh đồng thời, đặc biệt phát hiện qua các mối liên hệ mới trong trường liên tưởng.
Nhờ những tính chất khu biệt hóa này mà tư duy nghệ thuật có thể khắc phục sự hạn hẹp những vấn đề lý tính để nắm bắt được sự vật, hiện tượng ở mọi chiều kích, thậm chí cả những dạng thức “mơ hồ”, cảm tính trong nhiều khu vực tiếp xúc của hiện thực đời sống. Điều đặc biệt nhất, độc đáo nhất mà chỉ riêng nghệ thuật có thể mang lại là tạo sự kết nối giữa cảm xúc và lý trí. Mỗi tác phẩm nghệ thuật - sản phẩm của sáng tạo - là cầu nối giữa người nghệ sĩ và người thưởng thức. Người nghệ sĩ sử dụng tư duy nghệ thuật để thể hiện suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng của mình thông 8 qua lời văn, giai điệu, nhịp thơ, nét vẽ, nét điêu khắc,… một cách chủ ý, có chọn lọc nhằm tương tác với người thưởng thức.
Nhờ đó, các sản phẩm nghệ thuật thường mang năng lượng tiềm ẩn trong bản thân nó, từ đó nó có khả năng lan tỏa, ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội. Người thưởng thức có thể cảm nhận được sắc thái, thông điệp của tác phẩm bằng chính cảm xúc, kinh nghiệm sống và nền tảng học vấn của mình, theo một cách rất riêng và đặc biệt. Tư duy nghệ thuật là một loại hoạt động nhận thức của chủ thể sáng tạo nhằm sáng tạo ra các sản phẩm mới. Bởi vậy, đặc tính sáng tạo của tư duy nghệ thuật là tính lựa chọn, tính liên tưởng, tính ẩn dụ.
Tư duy nghệ thuật chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với tài năng - tức biết cảm nhận được một cách nhạy bén về đối tượng thẩm mĩ. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất của tư duy nghệ thuật chính là sự sáng tạo. Bởi lẽ, chỉ có sáng tạo, người nghệ sĩ mới trình bày, biểu đạt nó quá các cấu trúc nghệ thuật đặc thù. Mỗi người sáng tạo là một nghệ sĩ - nghệ sĩ ấy sẽ có cách chọn lựa khác nhau để bộc lộ tư duy nghệ thuật và sự cảm nhận thế giới theo cách riêng của mình.
Trong đó, xuất phát điểm của tư duy nghệ thuật phải là hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiếp” cho nó. Ngôn ngữ là hệ thống các ký hiệu nghệ thuật, là phương tiện tạo nên thế giới muôn sắc màu. Nó có chức năng lập mã nhằm quy ước cho mỗi hệ thống ký hiệu luôn gắn với tính năng truyền đạt thông tin thẩm mĩ nhất định. Như vậy, điểm xuất phát của tư duy nghệ thuật là trí tuệ kích hoạt trong diện trường kinh nghiệm thẩm mĩ, là hệ thống hóa các kết quả nhận thức của mỗi chủ thể nghệ thuật.
Tư duy nghệ thuật vô cùng quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật. Nó không chỉ bao trùm lên tầng ý thức mà cả các tầng tiềm thức và vô thức trong toàn bộ hệ thống tâm lý sáng tạo nghệ thuật. Cơ chế này chi phối toàn bộ quá trình tư duy của chủ thể sáng tạo. Nó khởi phát trên trục tư duy hình tượng và tiệm cận cấp độ cao thuộc về biểu tượng - khâu liên quan chặt chẽ nhất với trực giác.
Vì vậy có thể nói, tư duy nghệ thuật cũng như các hoạt động nghệ thuật đều mang đặc trưng trực giác. Bên cạnh đó, tư duy nghệ thuật luôn ẩn mình trong các loại hình tư duy khác, dù ít hay nhiều. Càng nhiều người tiếp cận với tác phẩm thì sự đánh giá và nhìn nhận càng đa chiều, càng phong phú. Mối liên kết của tư duy nghệ thuật và các loại hình tư duy khác đều đan xen một cách chặt chẽ và hỗ trợ cho nhau, góp phần gợi mở sự sáng tạo trong lối tư duy, từ đó tạo nên cái nhìn khách quan, đa chiều hơn về thế giới xung quanh.
Tư duy nghệ thuật là phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng. Theo đó, tư duy hình tượng là cơ sở của tư duy nghệ thuật. Để chiếm lĩnh đối tượng của mình, trong lĩnh vực nghệ thuật hình thành một kiểu tư duy đặc biệt gọi là tư duy nghệ thuật. Có thể chia tư duy làm ba bình diện khác nhau: tư duy hành động - trực quan, tư duy hình tượng - cảm 9 tính và tư duy khái niệm - lôgíc.
Tư duy hình tượng cảm tính đảm bảo sự tiếp xúc cảm tính, nhưng cách xa đối với khách thể trên cơ sở nghe, nhìn, tưởng tượng. Tư duy hành động trực quan không cần tái hiện lại khách thể: Quê hương tôi đất mặn đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá (Đồng chí - Chính Hữu). Khi trực nhận “đất mặn”, “đồng chua”, “cày lên sỏi đá” là ta thấy vùng quê nghèo khổ. Tư duy khái niệm - lôgíc tuy cũng là phản ánh tách khỏi đối tượng, nhưng nó thâm nhập vào bản chất của các hiện tượng.
Theo đó, nói tư duy duy hình tượng là cơ sở của tư duy nghệ thuật là nói đến ba loại tư duy hành động - trực quan, hình tượng - cảm tính và khái niệm - lôgic xuyên thấm vào nhau. Vai trò chủ đạo của tư duy hình tượng trong tư duy nghệ thuật, cho nên khi thu nạp những yếu tố của các loại tư duy khác, đều phải qua sự sàng lọc, cải tiến, bổ sung, liên kết, tạo cho được một loại tư duy mang tính chỉnh thể, mở ra những khả năng tối đa cho việc xây dựng những hình tượng sinh động và sâu sắc về cuộc đời. Như vậy, hình tượng nghệ thuật là thành quả của tư duy sáng tạo có định hướng của nghệ sỹ, là một kí hiệu thẩm mỹ đặc biệt. Tính kí hiệu hóa này là sự cô đọng của những thông điệp cốt lõi mà người nghệ sĩ muốn truyền tải.
Nó phản ánh cuộc sống ở nhiều góc độ khác nhau; giúp truyền tải một cách chân thật ước mơ và lý tưởng của người nghệ sỹ chân chính. Mỗi nhà văn, nhà thơ lại có cách nhìn thế giới riêng biệt, có cá tính tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo. Cái làm nên sự độc đáo văn chương là ở chỗ hướng đến cái tôi, cái cá nhân, cái duy nhất vì vậy cần thực sự say mê tìm tòi và sáng tạo thì cái tài hoa của người nghệ sĩ mới bộc lộ tạo ra được sự độc tôn. Theo đó, “tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan.
Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối sâu sắc của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tác” [69, tr. Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích khái quát những vấn đề về bản chất của hình thái tư duy nghệ thuật chúng ta có thể hiểu: tư duy nghệ thuật là hoạt động nhận thức của nhà văn, là quá trình đấu tranh tìm tòi để nhận thức hiện thực và khái quát hiện thực một cách nghệ thuật theo logic chủ quan. Mặt khác tư duy nghệ thuật chính là quá trình nhận thức của người tiếp nhận về tác phẩm nghệ thuật, có thể nói tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận văn bản nghệ thuật. Quan niệm về tư duy thơ Tư duy thơ là một hình thái biểu hiện của tư duy nghệ thuật, nhưng nó mang trong mình một khả năng biểu hiện phong phú nhờ ngôn ngữ thơ giàu tính biểu tượng.
Các lớp ngôn ngữ thi ca mà chủ thể sáng tạo sử dụng được hòa trong các trường cảm xúc vừa gần gũi thân quen vừa trừu tượng mơ hồ, có khi chỉ là 10 những sự vật vô cùng nhỏ bé không có giá trị trong cuộc sống nhưng mang sức khái quát cao. Tùy vào cảm xúc và dụng ý, trí tưởng tượng, chiều sâu suy tư mà người nghệ sĩ chọn cho mình những lớp ngôn ngữ giàu sắc thái biểu hiện khác nhau. Bởi vậy, phương tiện ngôn ngữ của tư duy thơ vừa là phương tiện giao tiếp có tính xã hội hóa cao độ vừa mang tính chất biểu trưng cho những dòng tình cảm chiết suất trong thẳm sâu tinh thần chủ thể. Theo đấy, tư duy thơ vừa có khả năng hướng nội vừa hướng ngoại và kết hợp giữa hướng nội và hướng ngoại.
Hướng ngoại là nhằm vào đối tượng, miêu tả, trình bày nó dưới ánh sáng của một quan niệm thẩm mỹ. Hướng nội là tác giả tự nghĩ về mình, tự quan sát biểu hiện cái tôi nội cảm của mình. Tìm hiểu tư duy thơ là tìm hiểu sự vận động của cái tôi trữ tình.