Đặt vấn đề Trong nhưng năm năm gần gần đây, lĩnh vực xử lỷ ngôn ngữ tự nhiên ngày càng phát triển. Nhưng để tận dụng được hết lợi ích của nó thì không phải ai cũng làm được. Đề tài này sẽ sử dụng công nghệ trích rút thông tin trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên để xây dựng hệ thống trích rút thông tin từ dữ liệu web cá nhân. Trích rút thông tin là một bài toán rất phổ biến và quan trọng, được áp dụng trong tìm kiếm và thu thập thông tin trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nó cung cấp thông tin hữu ích giúp cho việc ra quyết định cho một cá nhân hay một tổ chức một cách nhanh chóng.
Bài toán trích rút thông tin từ dữ liệu web cá nhân là một khía cạnh trong các bài toán trích rút thông tin như vậy. Các thông tin trích rút từ đơn giản như họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, nơi làm việc, chuyên môn, cho đến những thông tin phức tạp như hướng nghiên cứu, các bài báo đã công bố… Đã có rất nhiều bài báo viết về việc trích rút thông tin từ các website cá nhân như trích rút lý lịch cá nhân. Một vấn đề đặt ra đó là việc trích rút đó liên quan đến văn bản phi cấu trúc, viết theo lối tự do nên sẽ rất khó cho chúng ta trích rút được chính xác hoàn toàn. Trích rút tự động sẽ giúp ta thu thập được nhiều thông tin hơn, và đưa vào cơ sở dữ liệu.
Dữ liệu đó sẽ được chắt lọc, lưu vào cơ sở dữ liệu và sử dụng sau này. Hoặc có thể truy cập và tìm kiếm trực tuyến thông qua các ứng dụng trên web. Để giải quyết bài toán này đã có rất nhiều phương pháp được thực nghiệm nhằm đánh giá độ chính xác cho bài toán cụ thể. Tiêu biểu trong số này là phương pháp trích rút mô hình Markov ẩn (HMM), hay mô hình Markov entropy cực đại (MEMM) và phương pháp mới nhất hiện nay đó là mô hình trường ngẫu nhiên điều kiện (CRF).
Trong luận văn này chúng tôi 9 sẽ đi sâu vào phương pháp trích rút tự động kết hợp các ưu điểm của các mô hình trên. Khi giải quyết bài toán trích rút thông tin từ các website cá nhân, chúng tôi đặt ra rất nhiều câu hỏi trước khi tiến hành giải quyết và xử lý. Một trong những vẫn đề đó được liệt kê ở dưới 1. Loại văn bản và cách trình bày văn bản: Đó là loại văn bản mà ta xử lý, có thể là một bài báo, một bức thư điện tử, một trang web,… Mỗi loại văn bản hay thậm chí cùng một loại văn bản sẽ có một cách trình bày thông tin khác nhau.
Ví dụ như: Loại văn bản không có định dạng quy cách nào như văn bản tự do (email, các thông điệp tức thì,…) Loại văn bản vẫn có quy tắc câu nhưng có một vài định dạng quy cách, ví dụ như xuống dòng, cách dòng. Loại văn bản không có cấu trúc câu nhưng giàu định dạng quy cách Loại văn bản có dạng bảng như các bảng thống kê. Như vậy các văn bản càng nhiều định dạng quy cách thì việc trích rút thông tin càng dễ cho ta. Độ phức tạp của các mẫu câu: Các mẫu câu càng đơn giản và ít nhập nhằng thì việc trích rút thông tin càng trở lên dễ dàng hơn.
Ngược lại với các câu phức tạp và nhiều nhập nhằng, mơ hồ, có nhiều hơn một nghĩa thì để trích rút được thông tin thì cần thêm ngữ cảnh xung quanh để loại bỏ sự nhập nhằng trong câu. - Loại câu đơn giản: He was born in Alabama… - Loại câu phức tạp: ví dụ như tên địa chỉ University of Arkansas, P. Box 140, Hope, AR 71802 - Loại câu nhập nhằng, mơ hồ: Pawel Opalinski, Software Engineer at WhizBang Labs… 10 3. Miền lĩnh vực: Mỗi loại lĩnh vực có một đặc thù riêng, có các thực thể đối tượng riêng vì vậy việc trích rút thông tin cũng có những cách làm khác nhau.
Luận văn này, chúng ta sẽ đi sâu vào lĩnh vực CNTT và giáo dục. Kịch bản: Trong cùng một văn bản, có người quan tâm đến thông tin này, nhưng có người lại quan tâm đến thông tin khác (như vậy là theo các kịch bản khác nhau). Mỗi kịch bản lại quan tâm đến các thực thể khác nhau, có mối quan hệ ràng buộc khác nhau nên việc trích rút thông tin cũng sẽ khác nhau. Kỹ thuật áp dụng: Vấn đề về chọn lựa nhận dạng thủ công và nhận dạng tự động.
Nhận dạng thủ công có thể đạt độ chính xác cao nhưng đòi hỏi nhiều công sức của chuyên gia hơn. Với nhận dạng tự động, khi chuyển sang loại văn bản khác phải chỉnh sửa lại các quy tắc và các luật. Khi chuyển sang loại ngôn ngữ khác phải xây dựng lại các quy tắc và các luật từ đầu. Hiệu năng phụ thuộc vào kinh nghiệm chuyên gia và công sức bỏ ra.
Ngôn ngữ văn bản: Chúng tôi trước hết trích rút thông tin từ các web site cá nhân bằng tiếng Anh. Hướng phát triển tiếp theo của luận văn này là trích rút thông tin từ các web site cá nhân bằng tiếng Việt Nam. Với tiếng Việt chúng tôi sẽ xem xét về từ vay mượn, cấu tạo từ,… 7. Tính ổn định: là thách thức chính đối với trích rút thông tin.
Có 2 thước đo liên quan. Thước đo thứ nhất là khả năng xử lý các tập tài liệu lớn nhanh. Trong khía cạnh này, hệ thống trích rút thông tin nói chung co dãn tốt, chúng dựa trên các luật trích rút hẹp đơn giản hơn là xử lý ngôn ngữ tự nhiên phức tạp. Thước đo thứ hai và nhiều vấn đề hơn là số lượng các nguồn dữ liệu khác nhau.2 Mục đích nghiên cứu Mục đích của đề tài nghiên cứu và tìm hiểu xây dựng một mô hình hệ thống trích rút thông tin mới có những đặc điểm sau: - Dựa trên cơ sở lý thuyết của ngôn ngữ tự nhiên 11 - Dựa trên các phương pháp học luật, phân loại và gán nhãn tuần tự - Dựa trên các kết quả so sánh và thống kê có sẵn - Đề xuất một số phương pháp học luật cải tiến - Thiết kế ra một hệ thống trích rút thông tin trong phạm vi nghiên cứu 1.3 Đối tượng nghiên cứu Để đạt được các mục đích nói trên, chúng tôi cần nghiên cứu các vấn đề sau: - Các kết quả trích rút tự động và bán tự động của hệ thống trích rút thông tin bằng ngôn ngữ tiếng Anh.
- Các kết quả nghiên cứu so sánh của các hệ thống trích rút thông tin đã có từ đó xây dựng nên mô hình học luật, học máy tự động kết hợp với các phương pháp suy diễn, thống kê.4 Phạm vi nghiên cứu Việc trích rút thông tin từ một tập tài liệu bao gồm rất nhiều bước và đòi hỏi nhiều kỹ thuật kết hợp. Mỗi bước liên quan đến hàng trăm bài báo, công trình nghiên cứu khác nhau với rất nhiều cách tiếp cận. Mỗi công trình nghiên cứu lại được thực hiện bởi một nhóm các nhà nghiên cứu trong nhiều năm. Vì vậy, trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu trích rút thông tin cá nhân liên quan từ các website của người Việt Nam làm công nghệ thông tin.
Trước hết là các trang web bằng tiếng Anh. Trong số các bước đó, thì các bước xây dựng mẫu, xây dựng và học luật, phân loại và gán nhãn tuần tự chiếm phần lớn nội dung nghiên cứu của chúng tôi. Tất cả các bước này đã được nghiên cứu rất chi tiết và tỉ mỉ bởi hàng ngàn nhà khoa học trên toàn thế giới. Một số công trình đã được công bố và công khai cả mã nguồn và dữ liệu cần thiết để đánh giá, so sánh.
12 Chúng tôi sẽ kế thừa các mô hình các kết quả tốt nhất từ các bài báo nước ngoài mà chúng tôi đã tham khảo được.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Đề tài này nghiên cứu các mô hình trích rút thông tin tiên tiến nhất cho việc trích rút các thông tin cá nhân từ các website cá nhân. Các mô hình mới này có những điểm mới sau: Dựa trên các phương pháp trích rút thông tin tự động và cho độ chính xác cao hơn các mô hình trước đây. Dựa trên việc suy diễn, xây dựng luật, huấn luyện mẫu.2 Ý nghĩa thực tiễn Trích rút thông tin không bao giờ là cũ, và những quan điểm và ý tưởng mới luôn được đón nhận. Trích rút các thông tin từ các website cá nhân và đưa vào CSDL tiện cho việc tham khảo tra cứu sau này.
Đưa ra những quan điểm và phương pháp mới, đóng góp vào việc so sánh, đánh giá giữa các phương pháp trích rút thông tin profile của các cá nhân. Là tài liệu liên quan và tham khảo đến những pháp trích rút thông tin tự động mới hiện này trên toàn thế giới. 13 CHƯƠNG 2: NỀN TẢNG VÀ CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Một số khái niệm 2.1 Khái niệm trích rút thông tin Trích rút thông tin (IE) thường được xác định như là quá trình lựa chọn dữ liệu có cấu trúc và dữ liệu kết hợp. Quá trình này liên quan đến phân loại ngữ nghĩa của các mẩu thông tin chắc chắn và được xem xét như một bài toán nhỏ của hiểu văn bản.
Mục đích của nghiên cứu trích rút thông tin là xây dựng các hệ thống để tìm và kết nối các thông tin liên quan trong khi đó bỏ qua các thông tin lạ và không liên quan (Cowie and Lehnert, 1996, p. Kết quả quả trích rút thông tin hoặc là phân loại đồng thời hoặc là cấu trúc thành các lớp thông tin ngữ nghĩa cụ thể được tìm thấy trong các nguồn dữ liệu không có cấu trúc như văn bản ngôn ngữ tự nhiên, tạo ra thông tin thích hợp hơn cho các nhiệm vụ xử lý thông tin (W. Công thức trích rút thông tin cơ bản như sau: Information Extraction = segmentation + classification + association + clustering Có hai cách tiếp cận chính cho hệ thống trích rút thông tin (Eikvil L., 1999): • Tiếp cận kỹ nghệ tri thức: sử dụng các ngữ pháp để biểu diễn các luật cho hệ thống. Hệ thống này được xây dựng bằng tay với cho lĩnh vực cụ thể và kỹ sư tri thức đóng vai trò quan trọng trong hệ thống trích rút thông tin.
• Tiếp cận huấn luyện tự động: tạo ra các luật và sử dụng thuật toán huấn luyện để học từ tập các tài liệu chú thích. Cách tiếp cận này cần một lượng tập huấn luyện lớn để chạy thuật toán huấn luyện.