Chương 1, Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ~ Chương 2, Thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu ~ Chương 3. Kết quả và thảo luận - Kết luận và kiến nghị = Phu te - Tài liệu tham khảo. Tổng quan về v i khung hữu cơ kim loại (MOFs) 1. Khái quát lịch sử ra đời của vật liệu khung hữu cơ kim loại (MOFs) Vào thể kỉ trước, họ vật Hệu có ính chất đặc biệt như độ xốp, độ bỀn cơ, bỀn nhiệt cao và có thể khắc phục được những hạn chế của vật liệu truyền thông được tập trung nghiên cứu ạ bởi các nhà khon học trên thể giới.
Năm 1965, Tome vi các cộng sự đã tổng hợp thành công vit iệu lai giữa thành phẫn hữu cơ và vô cơ. Chúng được tạo thành từ các di, teracarboxyli acid và các kim loại chuyể nha Zn, Co, Ni, Ur,. Những năm dầu thập niền 1990s, hàng loạt các nại sứu về vật liệu cao phân tử có cấu trúc xóp ra đời dựa trên sự phối hợp giữa thành. phần hữu cơ và vô cơ đồng vai trò như các monomer.
Một số polymers phối trí xốp trong giai đoạn này được kế đến như {Cu[(NCN);(CH:):C¿H]), (Aumuller và công sự, 1986) [23]. Tuy nhiên, các công trình này chỉ tập trung nghiên cứu ở giai đoạn tổng. hợp và nghiên cứu cấu trúc, ứng dụng của chúng chưa được tìm hiểu sâu. Các vậtiệu này có đặc tính là kém bền do liên kết yếu giữa thành phần hữu cơ và vô cơ, ích thước lỗ xốp nhỏ do dị n tích bị chiếm hầu hết bởi các ion.
Đặc biệt, Yaghi và cộng sự đã tổng hợp thành công vật liệu b trúc xốp tương tự như vật 2aolie với tên gi là MOE-5 |25]. Vật liệu MOF-S có ấu trúc bao gồm các cụm Zns(-COO)4(H;O); đóng vai trò như các nút mạng lần lượt tạo liên kết phối trí với nhau bằng các cầu nối hữu cơ benzenedicarboxylate. Mạng lưới khung mang ko di theo không gian ha chiều bằng liên kết hydrogen mạnh giữa các phân tử nước theo trục và cũng bằng liên kết với các phân tử carboxylate trên c Chính vì lực liên kết mạnh giữa kim loại và nguyên tử oxygen trong mỗi cụm kim loại, cầu trúc MOF-5 vẫn # nguyên tính chất vi xốp sau khi được hoạt độ cáo để loại bỏ các phân tử dung môi bên trong, điều này được chứng minh qua đường, đẳng nhiệt hắp phụ khí N› ở 77K. Các kết quả thực nghiệm cho thấy MOF-5 có diện tích bễ mặt riêng theo mô hình hấp phụ của Langmuir khodng 270-310 m và thể tích lỗ xốp 0,094 em” ạ ' [25,26].
Hơn hai thập kỉ qua, các công trình nghiên cứu để tạo ra vật su MOF méi vi da dang vì h tng dụng không ngừng được tăng lên [27|. Bằng cách thay thế các cụm kim loại khác nhau, hay biến tính các cầu nổi hữu cơ trong cấu trúc MOPx bao gồm mỡ rộng kích thước, phối trộn hai cầu nỗi hữu cơ trong cấu trúc hoặc gắn thêm các nhóm chức có hoạt tính cao kết hợp với nhiều phương pháp tổng hợp nên có thể nói số lượng cấu trúc MOFS mới ra đi là không giới hạn [38. Giới thiệu vật liệu khung hữu cơ kim loại (MOES). ‘Vat liệu MOEs là một nhóm các vật liệu tổ hợp được hình thành bởi hai thành phần chính: các cụm kim loại và các phối tử hữu cơ [30] o2 + m Metals Metal clusters Organi Metal-organic framework Hinb 1.1, Cau trúc mô phòng khung vật liệu MOFs [31] Những ion kim loại đồng vai trỏ là đầu nổi trong cấu trúc của MOFs, thường Tà những ion kim loại chuyển tiếp nhw Cr, Fe, Cu2*, Zn?.
duge sit dung nhiều. Các ion kim loại thường kết hợp với các phối tử, ví dụ là oxygen tạo nên cụm. lon kim loại, gọi la cluster. Tinh chất quan trọng của cluster là số lượng phối tí và sự định hướng của điểm liên kết nhằm tạo thành các dạng bình học phối trí.
Cluster kết hợp với các cầu nổi hữu cơ tạo cấu trúc không gian ba chiều cho MOFs “Các cầu nỗi hữu co khác nhau có thể tạo ra nhiều sản phẩm khác nhau. Chúng cho phép quá tình lắp ghép các cầu nối hữu cơ vào bộ khung không gian ba chiều, của vật liệu MOEs với những tính chất đặc biệt. Trong đó nổi bật nhất là diện tích bề mặt riêng rấ lớn và cao hơn nhiều so với những vật liệu mao quản thông thường khác. ĐỂ thuận lợi cho việc hình thành liên kết phối trí với on kim loại.
các cầu nỗi hữu cơ thường được sử dụng là các hợp chất gốc cacboxylate, gốc phosphonate, gốc. sunfonate, gốc amine, hoặc sốc nitrile L) i" sper Ị A ad A Hinh 1. (a) Các SBUs carboxylate ci vit liga MOFs. Đa điện kim loại (màu xanh); O (đỏ); C (màu đen).
Các đa giác hoặc đa diện được xác định bởi các nguyên tir carbon của nhóm carboxylate (điểm mở rộng có mẫu đỏ) (b) Những cầu nỗi hữu sơ dũng trong cấu trúc MOEs [33] 1. Các ứng dụng của vật liệu MOFS `MOEs là vật iệu tiềm năng, nhiều tính chất ưu việt và có tính ứng dụng cao tong đời sống. Các công trình công bổ về các vật liệu MOBS ngày cảng nhiều và là một tong những hướng nghiên cứu nổi bật những nim gin diy. Mae đà tính thao mại hóa chưa cao nhưng tiểm năng của loại vật liệu này đã được ứng đụng ở nhiều vẫn để khác nhau.
Nhưng với những nghiên cứu cằn đây được công bổ cho thấy các khó khăn gần như được giải qu) do hình thái cấu trúc MOPS được chỉnh phù hợp theo mục. ứng dụng sau củng. Do đó, vật liệu MOFs qua nhiều năm vẫn giữ nguyên triển vọng là vật liệu có nhiều tính chất khác biệt ứng dụng trong nhiễu lĩnh vực. a, MOFs Lam vật liệu lưu trữ, tách lọc khí “Các khí thải cũng đang là một vấn đề lớn gây ảnh hưởng đến môi trường, các phương pháp xử lí, lưu trữ khí còn nhiều tốn kém và không an toàn.
Do đó việc lưu tữ và tách lọc khí là một tong những vẫn đề được quan tâm hàng đầu. Các nhà nghiên cứu đang phát tiển những loại vật liệu ắt đa dạng dễ giải quyết vấn để trên và vật liệu MOFs đang cho thấy triển vọng rất lớn nhờ các chất như lỗ xốp và diện tích tt lớn của nó, Stoeck và cộng sự đã nghiên cứu khả năng hấp phụ khí của vật liệu MI Kết quả cho thấy vật i DUT-47 v6i dig tích bề mặt 5476 mẺ ', thể tí hỗ xốp 2,91 cm` g có thể chứa 2,01 mg g-! COs tai nhigt 46 phòng, áp suất 50 bar và 308 mg gˆ CH¡ ở áp suất 110 bar |34]. Chong và nhóm nghiên cứu đã khảo sát sự hấp phụ CO; bởi MIL_101(Ct) khi thay đổi tỉ lệ ita linker 'BDC và Cr. Kết quả cho thấy rằng lượng CO; tối đa được MIL-]01(C£) hấp phụ là 18,78 mmol g ' với lệ Cr-BDC = 1:1 [35] b.
MOEs làm vật liệu hấp phụ ion kim loại nặng, Một số phương pháp ra đời để ứng dụng loại bỏ ion kim loại nặng trong nước thải như chiết dung môi, kết tủa, trao đổi ion, hép phụ. tạo màng lọc và công nghệ điện hoá [7-11]. Tuy nhiên các phương pháp lại cho hiệu suất không cao, loại bỏ. không hoàn toàn và cần thiết bị tốn kém [36.
Trong các phương phíp, hắp phụ là phương pháp nỗi bật và được sử dụng phố biến trong việc làm giảm hàm lượng. on kim loại nặng trong nước thải do tính linh hoạt trong qui tình thiết kể, độ chọn lọc cao, tính khả thí, MOES là vật iệu có độ xốp cao, các ion kim loại nặng được khuếch tán vào các lỗ xốp và trơng tác tỉnh điện với vật liêu MOEs. Quá tình hắp phụ đi kèm với quá tình giải hp, là quá trình chất bắp phụ được ải sinh để sử dụng nhiều lẫn, giúp tết kiệm chỉ phí. Nhằm so sánh quá tình hấp phụ của các vật liệu khác nhau, các nhà nghiên cứu thưởng dựa vào các mô hình hắp phụ để tìm dung lượng hấp phụ cực đại.
Nó đóng vai trò là thông số quan trọng đánh giá khả năng. Hàm lượng ion kim loại năng trong nước trong nước có thể xác định bằng các phương pháp hoá lí khác nhau như phương pháp quang phổ UV-Vis, mỏ bẻ thụ nguyên tử điện nhiệt EAS, phd. thụ nguyên tir không ngọn lửa EAAS, khối phỏ ICP-MS, phổ hấp thụ nguyên từ AAS,. Các phương phápÌ đại ra đồi đồng vai trỏ quan trọng giúp định lượng hàm lượng ion kim loại nặng trong nước một cách đơn giản, góp phần lớn đơn giản hoá các giai đoạn khi sử dụng phương pháp hấp phụ.
Zhao va cộng sự đã tổng hợp vật liệu UiO-66-COOH); với các nhóm chức earboxylie có tính acid bên trong cấu trúc cho thấy khả năng hấp phụ cao Pb** đạt dung lượng khoảng 420. Ahmadijokani và c tông sự đã tổng hợp vat ligu MOFs UiO— 66-EDA với cầu nổi hữu cơ cthylenediamine và tâm kim loại Zr để nghiên cứu khả năng hấp phụ các ion kim loại nặng từ nước. Cụ thé, Khảo sát ảnh hướng của thời gian khuấy trộn, pH dung dịch, liều lượng chất hấp phụ. nÌng độ ion kim loại ban dầu, nhiệt độ và sự cùng tổn ti của các ion kảm loại khác đến hiệu quả hấp phụ iO-66-EDA đối với Ph(D, Cú 1D, và các ion kim loại Cull), Giá tị hấp phụ sựe đại các ion Pb, Cử và Cụ lên UiO-66-EDA lần lượt là 24390, 21739 và 208,33 mạ gˆ'.
Dung lượng hấp phụ cực đại của ion Pb cao hơn so với Có và các lon Cu có thể là đo các tương tác khác nhau của chúng và ái lực với các hạt nano Ui0-66-EDA. Vì các ion PbÈ* có độ âm điện cao hơn các ion kim loại khác, chúng có thể có lương tác mạnh hơn với các cặp clecon đơn độc trên các nguyên tử nitrogen của nhóm NH; so với các ion Cuʰ và Cứ” [41] eMOEs làm vật liệu xúc tác MOFs với cấu trúc tỉnh thể, có sự sắp xếp trật tự cao vả kích thước lỗ xốp đã dạng, MOEs có khả năng phân bổ các. iu trúc đồng đều, nhiều tâm hoạt động và có. thể điều chỉnh lính hoại Bên cạnh đó MOEs với cầu trúc rỗng có khả năng hắp phụ sắc chất tham gia lên bề mặt để dễ dàng thục hiện phản ứng.
Điều này làm cho MOES tử thành vặt iệu xúc ác diy iềm năng [42]. Một trong những vị tr được quan tâm tong cấu trúc của MOFS là các tâm kim loại chuyển tiếp có fc orbital d trống và sẽ đông vai trỏ như một xúc tác acid Lewis rong các phản ứng hữu cơ [43].