Đặt vấn đề GVHD: Ts. Đỗ Hồng Tuấn thuật toán VTL vẫn còn tồn tại một số mặt hạn chế. Do đó, một số đề xuất được đưa ra để cải thiện thêm tính tối ưu của thuật toán. Luận văn được chia làm ba giai đoạn: - Giai đoạn 1: một số kịch bản tại giao lộ 1 chiều đã được khảo sát và đánh giá sơ bộ.
- Giai đoạn 2: các kịch bản còn lại tại 1 giao lộ sẽ được khảo sát và đánh giá trong luận văn này. Ngoài ra, luận văn đã phát triển mở rộng đánh giá khảo sát trên qui mô 3 giao lộ kế cận để tăng thêm độ thuyết phục của thuật toán. - Giai đoạn 3: đưa ra một số đề xuất nhằm làm tăng thêm tính tối ưu lưu lượng dựa trên mô hình VTL.3 Phạm vi đề tài Trong phạm vi của đề tài này, chúng ta giả định rằng mạng VANET là lí tưởng (không rớt gói, trễ không đáng kể, gói tin không bị đụng độ), các thiết bị trên xe hỗ trợ cho mạng VANET và giao thức VTL hoạt động ổn định. Điều quan trọng nhất là tất cả các tài xế đều có ý thức tốt và tuân theo luật lệ giao thông và sự dàn xếp của giao thức VTL.
Khi các điều kiện trên được thỏa mãn, luận văn sẽ đi vào khảo sát đánh giá các kịch bản tại 1 giao lộ và 3 giao lộ (2 giao lộ liền kề trên 2 hướng vuông góc của giao lộ trung tâm). Theo đó, các kịch bản được khảo sát và đánh giá bao gồm: - Giao lộ 2 đường giao nhau là 1 chiều. - Giao lộ 2 đường giao nhau là 2 chiều. - 2 giao lộ kế cận theo 2 hướng vuông góc với giao lộ trung tâm.
- 2 giao lộ kế cận theo 2 hướng vuông góc với giao lộ trung tâm và giải pháp đề xuất tăng thêm tính tối ưu của thuật toán VTL. - Giao lộ 2 đường giao nhau là 1 chiều và giao lộ 2 đường giao nhau là 2 chiều kết hợp giải pháp đề xuất tăng thêm tính tối ưu của thuật toán VTL. HVTH: Bành Trường Sơn 5 Chương 2: Lí thuyết cơ sở và phương pháp GVHD: Ts. Đỗ Hồng Tuấn Chương 2 Lí thuyết cơ sở và phương pháp 2.1 Lí thuyết cơ sở Trong những năm gần đây, hệ thống điều khiển trong ngành công nghiệp ô tô đã từng bước chuyển từ kĩ thuật tương tự (analog) sang kĩ thuật số (digital).
Hệ thống điều khiển mạng điện nội bộ trên xe (Networked Electronic Control Unit – ECU) đang được triển khai nhanh chóng trên các xe ô tô đời mới như kiểm soát động cơ, túi khí, hệ thống phanh thông minh… Ngoài ra, mạng thông tin vô tuyến cho xe ô tô dưới các dạng thông tin nội bộ xe (Intra-Vehicle - InV), xe với xe (Vehicle to Vehicle - V2V) và xe với cơ sở hạ tầng (Vehicle to Infrastructure - V2I) đang nổi lên nhanh chóng và ngày càng trở nên hiện thực. Vì vậy, với việc hệ thống mạng liên lạc cho xe ô tô đã nhanh chóng trở nên phổ biến thì dữ liệu không chỉ được trao đổi nội trong xe mà còn ra ngoài xe. Trên cơ sở đó, các công nghệ mạng mới đang được phát triển riêng cho xe ô tô. Trong chương này, các khái niệm cơ bản về Mobile Ad-Hoc Network (MANET), Vehicle Ad-hoc Network (VANET), tổng quan các công nghệ và các chuẩn vô tuyến mới cùng các vấn đề liên quan sẽ được giới thiệu.1 Mobile Ad-hoc NETwork (MANET) Khi không thể hoặc khó khăn trong việc triển khai mạng điện thoại di động thì các công nghệ truy nhập mạng của internet mang tính khả thi hơn.
Công nghệ MANET giúp giảm chi phí xây dựng và triển khai cơ sở hạ tầng mạng viễn thông. Trong MANET, các nút di động không dây có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành mạng không dây mà không cần cơ sở hạ tầng để thiết lập và duy trì kết nối giữa chúng [4]. Vì không có sự kết hợp hay cấu hình trước nên khi thiết lập kết nối MANET tồn tại một số thách thức như sau: - Việc định tuyến gói tin trong môi trường sơ đồ mạng (topology) thay đổi liên tục. - Các vấn đề và thách thức trong thông tin vô tuyến.
- Các vấn đề tài nguyên lưu trữ và công suất thu phát của anten. - Tại một số khu vực như rừng núi và những nơi xa xôi cách trở thì mạng lưới như vậy không thể xây dựng được vì không thể cung cấp đủ lượng năng lượng cần thiết cho các HVTH: Bành Trường Sơn 6 Chương 2: Lí thuyết cơ sở và phương pháp GVHD: Ts. Đỗ Hồng Tuấn anten thu phát. Tại những khu vực này sử dụng thông tin vệ tinh là khả thi nhất nhưng dung lượng còn hạn chế và có những tình huống dưới lòng đất thì các vệ tinh không thể được nhìn thấy.
Mặc dù vậy, MANET vẫn kế thừa rất nhiều ưu điểm từ mạng internet. Trên mạng internet, khi hai máy tính giao tiếp với nhau, không máy nào được xem là quan trọng hơn so với máy khác. Nhưng trong mạng điện thoại di động, điện thoại phụ thuộc vào nhà mạng ngay cả khi hai điện thoại được sử dụng ngay bên cạnh nhau. Bất kỳ kết nối nào của chúng luôn thông qua mạng lưới và trong tầm phủ sóng của các anten của các trạm gốc (base station).
Thuộc tính hữu ích tiếp theo là về tính linh hoạt trong thực hiện kết nối khi các router trên internet liên tục cập nhật thông tin về tuyến từ các nút kế cận. Công nghệ MANET có khả năng giúp mạng lưới di động trao đổi thông tin ở tần số cao. Sau đây là các lí do khiến MANET được sử dụng: - Các thiết bị di động đã hình thành được một mạng ngang hàng (peer-to-peer) cho việc trao đổi dữ liệu với nhau hoặc với mạng viễn thông. - Công nghệ này có thể tạo ra các cơ hội kinh doanh mới vì những người sử dụng đầu cuối trong những điều kiện nhất định có thể bỏ qua mạng điện thoại di động thương mại truyền thống.
- Đối với các dịch vụ của MANET như peer-to-peer và chia sẻ dữ liệu có thể kết hợp với công nghệ 3G. Rõ ràng, MANET chính là một công nghệ mới đầy tiềm năng và tác động mạnh mẽ đến thế giới viễn thông và các nhà sản xuất phần cứng.2 Vehicular Ad-hoc NETwork (VANET) Nguyên lí cơ bản của VANET kế thừa sự phổ biến và chi phí triển khai thấp của công nghệ WLAN dùng để kết nối các laptop với nhau hoặc kết nối đến internet để áp dụng cho công nghệ mạng xe ô tô [5]. Nếu các xe có thể liên lạc trực tiếp với nhau và với cơ sở hạ tầng thì mô hình các ứng dụng an toàn cho xe ô tô có thể được tạo nên. Thậm chí các ứng dụng không mang tính an toàn khác cũng có thể tối ưu được hiệu quả của ô tô và đường xá.
Tuy nhiên, các thách thức mới sẽ xuất hiện khi tốc độ các xe cao và môi trường hoạt động không ngừng thay đổi. Các yêu cầu mới đòi hỏi bởi các ứng dụng mới an toàn cho cuộc sống “safety-of-life” bao gồm các tiêu chuẩn vận chuyển các gói tin ở tốc độ cao và độ trễ thấp. HVTH: Bành Trường Sơn 7 Chương 2: Lí thuyết cơ sở và phương pháp GVHD: Ts. Đỗ Hồng Tuấn Hơn nữa, để đạt được sự đồng thuận của các lái xe và chính quyền quản lí dẫn đến một tiêu chí rất cao về độ riêng tư và tính an toàn giao thông.
Ngày nay, các phương tiện giao thông đã có thể tạo ra và phân tích tính toán một khối lượng lớn dữ liệu, mặc dù các dữ liệu này chỉ phát sinh và được xử lí nội bộ trong xe. Với VANET, thông tin liên lạc có thể được thực hiện trực tiếp giữa các xe với nhau (thông tin qua một chặng) hoặc các xe có thể tái vận chuyển các thông điệp (thông tin đa chặng). Để tăng vùng phủ và chất lượng của các kết nối vô tuyến, các trạm “relay” ở ven đường có thể được triển khai. Cơ sở hạ tầng ven đường được sử dụng như là cổng (gateway) để ra internet, do đó các thông tin có thể được thu thập, lưu trữ và xử lí linh hoạt ở miền điện toán đám mây.
Các ưu điểm từ hệ thống mạng cho xe ô tô đang được thúc đẩy một cách mạnh mẽ bởi sự đa dạng của các ứng dụng trong miền điện toán đám mây. Trước hết, các ứng dụng về an toàn giao thông dễ dàng được triển khai qua VANET mà tiêu biểu nhất là các ứng dụng về ngăn ngừa tai nạn giao thông. Thứ hai, bằng cách thu thập tình trạng lưu lượng trong một khu vực, lưu lượng lưu thông có thể tăng lên, thời gian di chuyển có thể giảm xuống cũng như giảm được việc tiêu tốn nhiên liệu. Tính an toàn và hiệu quả trong VANET không được tách rời nhau.
Khi có một vụ tai nạn xảy ra, một thông điệp thông báo có tai nạn có thể được xem là thông điệp an toàn cho các xe ở gần vụ tai nạn vì sẽ tránh cho các xe ở gần đó đang di chuyển ở tốc độ cao không dừng lại kịp sẽ gây tai nạn liên hoàn. Thông điệp này cũng có thể được nhận bởi các xe không ở gần vụ tai nạn như là một thông tin để tính toán tuyến đường thay thế bởi các ứng dụng nhằm làm tăng lưu lượng và hiệu quả lưu thông trong giao thông. Trong khi ý tưởng và các khái niệm cơ bản về VANET tương đối đơn giản thì việc thiết kế và triển khai VANET là một thử thách thật sự về mặt kĩ thuật lẫn kinh tế. Các thách thức chính về kĩ thuật như sau: - Các thuộc tính vốn có của kênh truyền vô tuyến: VANET kế thừa những đặc điểm cố hữu gây khó khăn việc phát triển thông tin vô tuyến như nhiều chướng ngại vật gây phản xạ sóng có thể làm suy giảm cường độ và chất lượng của tín hiệu nhận được.
Ngoài ra, do sự di chuyển của các đối tượng xung quanh hay của chính máy phát và máy thu gây ra hiệu ứng fading. - Thiếu sự quản lý tập trung và tổ chức phối hợp trực tuyến: việc sử dụng công bằng và hiệu quả băng thông sẵn có của các kênh vô tuyến là một nhiệm vụ khó khăn trong một mạng lưới hoàn toàn phân cấp và tự tổ chức. Việc thiếu một thực thể để HVTH: Bành Trường Sơn 8 Chương 2: Lí thuyết cơ sở và phương pháp GVHD: Ts. Đỗ Hồng Tuấn đồng bộ hóa và quản lý việc truyền phát của các node khác nhau dẫn đến kết quả sử dụng kênh truyền một cách kém hiệu quả và một số lượng gói tin bị đụng độ nhau (collision).