CHƯƠNG I: TỔNG QUAN THIẾT BỊ ĐO KHỚP CỔ CHÂN 1.1Tổng quan về hướng nghiên cứu Trong quá trình phục hồi chức năng khớp cổ chân, người kỹ thuật viên cần xác định chính xác những thay đổi về khả năng vận động của khớp, cho phép đánh giá kết quả điều trị.Việc đánh giá này được áp dụng trong chấn thương chỉnh hình – phục hồi chức năng từ lâu bằng chủ yếu là các phương pháp thủ công. Một trong những phương pháp thủ công thường được sử dụng có các bước như sau[16]: 1. Bệnh nhân được yêu cầu đứng thẳng và co chân sao cho đầu gối chạm vào tường mà không được nhấc gót chân. Một cảm biến đo độ nghiêng được đặt phía trước xương chày dùng để đo góc tương đối của xương chày với mặt đất.
Góc giữa bàn chân và cẳng chân được đo bằng thước đo góc. Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp thủ công khiến cho độ tin cậy của dữ liệu hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ thuật viên. Thời gian gần đây, các thiết bị tự động hỗ trợ cho kỹ thuật viên y tế ngày càng được sử dụng nhiều, giúp tăng độ chính xác trong quá trình chuẩn đoán. Năm 2002, Zhang và các đồng nghiệp đã phát triển một thiết bị kéo dãn để điều trị chứng co cứng cổ chân của bệnh nhân bị suy giảm thần kinh.Thiết bị cho phép kiểm tra khả năng vận động của khớp cổ chân của bệnh nhân suy giảm thần kinh trong quá trình hoạt động [1].
Năm 2004, Rydahl và Brouwer nghiên cứu một hệ thống đo độ cứng và dịch chuyển góc của khớp cổ chân cho 3 Luan van bệnh nhân nhân đột quỵ [2]. Thiết bị của Rydahl và Brouwer sử dụng cảm biến lực cơ để đo phạm vi di chuyển của khớp cổ chân. Jason Wilkin và các đồng sự tại trường Đại học Iowa (Hoa Kỳ) đã chế tạo ra IAROM (Iowa ankle range of motion), được gọi là thiết bị đo biên độ khớp cổ chân [3]. Thiết bị này gồm một tấm lót bàn chân 30x30cm gắn liền với một giá đỡ có kích thước 30x40 cm.
Hai dây đai Velcro rộng10 cm giúp cố định thiết bị vào chân bệnh nhân. Một khối bọt cứng cao 3cm đặt dưới cổ chân để hỗ trợ xương chày. Cảm biến góc nghiêng và cảm biến lực được đặt dưới tấm lót bàn chân.Trong quá trình đo, kỹ thuật viên sẽ tác dụng lực tăng dần lên tấm lót bàn chân. Cảm biến góc nghiêng ghi nhận góc lệnh giữa bàn chân và cẳng chân.
IAROM cho phép kiểm tra cổ chân tương đối chính xác. Tuy nhiên thiết bị vẫn còn nhiều hạn chế như: chỉ đo khả năng vận động của khớp cổ chân theo một phương và cũng không có khả năng đo khi người bệnh chủ động di chuyểncổ chân.1 Thiết bị đo khớp thụ động IAROM Năm 2011, Roy và các đồng nghiệp đã chế tạo một thiết bị đo độ cứng của khớp cổ chân cho các bệnh nhân liệt nửa người. Hệ thống sử dụng thiết kế thiết bị hỗ trợ cổ chân của MIT (Massachusetts Institute of Technology)[4], có cấu trúc bộ xương ngoài với 3 bậc tự do. Hệ thống cho phép đo các góc giữa bàn chân và cổ chân.
4 Luan van Hình 1.2 Thiết bị đo khớp cổ chân chủ động của Roy Trong đề tài này, nhóm nghiên cứu chế tạo thiết bị đo khớp cổ chân thụ động cho phép đo được cả 6 bậc tự do chuyển động của khớp trong không gian. Nhóm sử dụng cơ cấu nối tiếp 6 bậc tự do, cho phép tiết kiệm được không gian sử dụng, giúp bệnh nhân thoải mái hơn khi vận động, và rút ngắn tốt đa thời gian lắp ráp thiết bị trên bệnh nhân. Đồng thời phương pháp đo dựa trên sự so sánh khác nhau giữa chuyển động của 2 cổ chân(trái/phải) từ đó rút ra kết luận về khớp bị bệnh. Việc so sánh giữa hai cổ chân giúp cho khả năng chuẩn đoán của thiết bị hiệu quả hơn vì chênh lệch giữa 2 chân khi khỏe mạnh sẽ không cao, nên việc lấy số liệu trực tiếp từ chân khỏe để so sánh với chân bệnh là hoàn toàn hợp lý.
Mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu Thiết bị cho phép đo các thông số động học của khớp cổ chân người sử dụng, hỗ trợ quá trình chuẩn đoán và theo dõi khớp cổ chân. Thiết bị được nghiên cứu nhằm phục vụ cho nhu cầu chuẩn đoán bệnh nhân sau phẫu thuật khớp cổ chân tại bệnh viện Chợ Rẫy Tp. Mô hình được thiết kế với chức năng đo chuyển động của khớp trong hoạt động hằng ngày nhằm đáp ứng yêu cầu trên. Các thiết bị nàycho phép đo chuyển động của 6 bậc tự do của khớp trong không gian, tính toán động học, từ đó giúp đánh giá khả năng vận động của khớp cổ chân qua các thông số như góc, vận tốc, gia tốc quay hay trục quay tức thới (IHA) của khớp.3 Nhiệm vụ nghiên cứu và giới hạn đề tài Đề tài thực hiện theo nội dung “Thiết kế và chế tạo thiết bị đo khớp cổ chân” với mục đích sử dụng trong lĩnh vực chấn thương chỉnh hình và phục hồi chức năng.
Thiết bị cho phép đo góc quay của khớp của người sử dụng. Vì mục đích sử dụng cho việc chẩn đoán khớp, nên thiết bị cần được thực nghiệm nhiều lần trên nhiều bệnh nhân, từ đó xây dựng một cơ sở dữ 5 Luan van liệu cho việc nghiên cứu tính toán và tìm ra phương pháp đánh giá hiệu quả nhất. Đề tài giới hạn ở việc nghiên cứu chế tạo thiết bị đo khớp cổ chân thụ động và thử nghiệm trên người khỏe mạnh nhằm chứng tỏ độ ổn định và độ chính xác của thiết bị trước khi được thử nghiệm trên bệnh nhân.4 Phương pháp nghiên cứu a) Phương pháp tham khảo tài liệu: Tác giả sử dụng phương pháp này để thu thập thông tin từ những đề tài đã có.Tác giả tham khảo phương pháp và quá trình thực hiện, kết quả đạt được của các tác giả khác, từ đó làm cơ sở cho đề tài đang nghiên cứu. b) Phương pháp thực nghiệm: Kết quả thực nghiệm cho phép chứng minh tính chính xác và ổn định của mô hình và cũng là giúp xây dựng cơ sở dữ liệu cho việc đánh giá chất lượng khớp cổ chân.
Các thí nghiệm sau sẽ từng bước được thực hiện nhằm từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu cho thiết bị: - Đo biên độ khớp - Đo động học khớp - So sánh dữ liệu nhiều người - Thiết lập một phương pháp đánh giá chất lượng khớp thông qua các dữ liệu thu thập được. 6 Luan van CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT I. Khớp cô chân. Khớp cổ chân (talocruralregion) là một khớp bản lề một trục gồm xương chày (Tibia) và xương mác (Fibula) tạo thành khớp chày mác và xương chày và xương sên (Talus) tạo thành khớp chày sên (Donatelli and Wolf 1990).
Khớp này là một khớp vững, với xương chày và xương mác tạo thành một ổ sâu như một lỗ mộng cho ròng rọc xương sên. Phần trong của lỗ mộng là bề mặt phía trong của mắt cá trong, phần ngoài của lỗ mộng là bề mặt phía trong của mắt cá ngoài. Mắt cá ngoài thấp hơn mắt cá trong, bảo vệ các dây chằng bên ngoài của cổ chân, chống khớp di lệch ra phía ngoài. Xương chày và xương mác vừa khít trên ròng rọc xương sên, một xương có phần trước rộng hơn phần sau.
Sự khác nhau về độ rộng của xương sên tạo nên chuyển động dạng khép của bàn chân (inversion/eversion). Tư thế khớp khóa của cổ chân là gập mu (dorsi-flexion). Chuyển động xoay quay trục cẳng chân (abduction/adduction) không đáng kể theo nhiều tài liệu về giải phẫu khớp cổ chân.1: Khớp cổ chân như là một khớp mộng của thợ mộc Cổ chân được làm vững bởi rất nhiều dây chằng bên trong và ngoài, làm hạn chế gập mu và gập lòng, vận động ra trước và ra sau của bàn chân, chuyển động nghiêng của xương sên, và nghiêng trong ngoài [5]. (Moore et al.
7 Luan van Hình 2.2: Bố trí dây chằng trên các xương Sự ổn định của cổ chân phụ thuộc vào hướng của các dây chằng, loại lực tải, và tư thế của cổ chân vào lúc chịu tải. Mặt ngoài của khớp cổ chân dễ bị tổn thương hơn, chiếm 85% bong gân cổ chân[6](Leardini et al. Trục xoay của khớp cổ chân là một đường thẳng giữa hai mắt cá, chạy chéo so với xương chày. Gập mu bàn chân (dorsi-flexion) xảy ra ở khớp cổ chân khi bàn chân di chuyển về phía cẳng chân (ví dụ, khi nâng các ngón chân và bàn chân khỏi sàn) hoặc là cẳng chân di chuyển về phía bàn chân (ví dụ, khi hạ thấp người xuống với bàn chân cố định trên sàn nhà).
Tầm vận động ở khớp cổ chân thay đổi với lực tải lên khớp. Tầm vận động gấp mu bàn chân bị hạn chế bởi tiếp xúc xương giữa cổ xương sên và xương chày, bao khớp và các dây chằng, và các cơ gấp lòng bàn chân. Tầm vận động gấp mu trung bình là 20°, dù dáng đi bình thường chỉ cần khoảng 10° gấp lòng. Khi ngồi xổm gấp mu có thể đạt hơn 40° [7](Lundberg et al.
Gấp lòng bàn bị giới hạn bởi xương sên và xương chày, các dây chằng, các bao khớp, và các cơ gấp mu (gấp mở). Tầm vận động trung bình của gấp lòng bàn chân là 50°, trong dáng đi bình thường, tầm gấp lòng khoảng từ 20° đến 25°[7](Lundberg et al. 8 Luan van Hình 2.3:: G Gấp lòng bàn chân (DF) và gấp p mu bàn chân Khớp cổ chân có 2bậcc ttự do chủ động, với chuyển động gấp/du p/duỗi (dorsiflexion/ plantarflexion) và nghiêng trong ngoài (inversion/eversion). Chuy Chuyển độ ộng quay xoay trục cẳng chân nếu có thì cũng làà 1 chuy chuyển động thụ động, với biên độ không đáng kể.4 : Mô ttả chuyển động gập/ duỗi của cổ chân Với sự kết hợp của cẳng ng chân, chuy chuyển động của khớp cổ chân, ta có thểể điều khiển được chuyển động gấp/mở (dorsi-flexion/planta flexion/planta-flexion) flexion) và nghiêng trong/ngoài (inversion/eversion) so với mặặt phẳng thẳng.5:: Mô tả t chuyển động nghiêng trong/ ngoài của cổ chân Luan van Hình 2.6: Chuyển động cơ bản có thể của cổ chân 1.1 Khớp cổ chân a) Điều khiển bó cơ.
Cơ bắp hoạt động trên cẳng châncó thể được chia thành hai nhóm: cơ bên trong (cơ nội tại) và bên ngoài. Mỗi nhóm có một chức năng và vị trí khác nhau. Trong đó, cơ bên ngoài gắn với một bên xương cẳng chân và phía bên kia nối với xương bàn chân, cơ nội tại đều nằm ở chân. Kết quả là, cơ bên ngoài lớn hơn các cơ nội tại đáng kể và do đó là những bó cơ chính gây dịch chuyển ở các khớp.