Chương 1: Một số vấn dé lý luận về phòng vệ chính dang và tội cỗ ý gây thương tích hoặc gây ton hại cho sức khỏe người của khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng trong luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và thực tiễn xét xử. Chương 3: Hoàn thiện quy dinh của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và các giải pháp bảo đảm áp dụng. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE PHÒNG VỆ CHÍNH DANG VA TỘI CÓ Ý GAY THƯƠNG TÍCH HOẶC GAY TON HAI CHO SỨC KHỎE CUA NGƯỜI KHÁC DO VƯỢT QUÁ GIỚI HAN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM.
Khái niệm, khái quát các điều kiện của phòng vệ chính đáng. Trong khoa học luật hình sự, khi thực hiện việc nghiên cứu về một loại tội phạm, người nghiên cứu cần nam rõ được nguyên nhân, gốc rễ của tội phạm đó. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng có xuất phát điểm là hành vi phòng vệ của con người trước những nguy hiểm mà các cá nhân khác gây ra cho bản thân mình. Vì vậy, trước khi nghiên cứu về loại tội phạm nay, chúng ta cần phải năm rõ được khái niệm,bản chất và các điều kiện của hành vi phòng vệ chính đáng.
Khái niệm phòng vệ chính đáng. Ngay từ khi xã hội loài người chưa phân chia giai cấp, chưa hình thành nhà nước thì hành vi phòng vệ trước những nguy hiểm đã xuất hiện ở một hình thức nôm na nhất, đó là “ vệ”. Trong xã hội nguyên thủy, dựa vào bản năng sinh tồn của mình, con người đã biết tự bảo vệ tính mạng, sức khỏe của bản thân, của gia đình dòng tộc trước sự đe dọa của thiên nhiên, của những người, nhóm người khác. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của xã hội loài người, với sự ra đời của pháp luật hình sự nói chung và chế định phòng vệ chính đáng nói riêng, an toàn tính mang và sức khỏe của con người ngày càng được dé cao và bảo vệ.
11 “Phòng vệ” có thể được hiểu là hành động chống trả lại những nguy hiểm do người khác thực hiện. Một hành vi được coi là phòng vệ chính đáng khi người thực hiện hành vi phòng vệ đang trong ở trong hoàn cảnh cần thiết phải chống trả lại những hành vi vi phạm pháp luật, cường độ chống trả mà người đó thực hiện là phù hợp với những hành vi nguy hiểm đang diễn ra. Đồng thời, hành vi phòng vệ ấy cũng phải xảy ra vào đúng thời điểm người phòng vệ đang phải đối diện với nguy hiểm, với những hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích của những người xung quanh. Phòng vệ chính đáng là một trong các trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự.
Trach nhiệm hình sự là một thuật ngữ trong khoa học luật hình sự, là một trong những van đề căn bản, cốt lõi nhất của luật hình sự. Có thé hiểu Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm. Khi một chủ thể thực hiện hành vi phạm tội và bị kết tội dựa trên phần quyết định của một bản án có hiệu lực pháp luật thì cá nhân, pháp nhân đó phải chịu trách nhiệm hình sự, đồng nghĩa với việc phải chịu những chế tài xử lý, các biện pháp cưỡng chế, trừng phat của Nhà nước, của pháp luật hình sự. TS Trinh Tiến Việt định nghĩa khái quát trách nhiệm hình sự như sau: “ Trach nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất và là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm.
Trách nhiệm hình sự được thể hiện thông qua việc Nhà Nước áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế được quy định trong Bộ luật Hình Sự đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội. ` [67] Việc truy cứu trách nhiệm hình sự được xác định và thực hiện theo một trình tự thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Theo quy dinh của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, ca nhân và pháp nhân thương mại 12 phạm tội đều phải chị trách nhiệm. Cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc thực hiện một hành vi nguy hiểm bị Bộ luật hình sự quy đmh là tội phạm.
Tuy nhiên, không phải cứ thực hiện tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình Sự là phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc xác định một người có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không còn dựa vào nhiều yếu tố khác nhau như vấn đề nhân thân, yếu tố lỗi. Có những cá nhân thực hiện tội phạm nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự, cũng có trường hợp thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do Bộ luật Hình sự hiện hành chưa quy đmh đó là tội phạm. Tóm lại, trách nhiệm hình sự là cơ sở pháp lý dé các cơ quan bảo vệ pháp luật và Toa án dau tranh phòng, và chống tội phạm, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, các lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.
Trở lại vấn đề phòng vệ chính đáng, như đã khăng định, phòng vệ chính đáng là một trong những trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự. Dựa trên thực tiễn xét xử, Bộ luật hình sự của các quốc gia cũng có nhiều cách định nghĩa thế nào là phòng vệ chính đáng. Trong Bộ luật hình sự liên bang Nga năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 2010, khái niệm phòng vệ chính đáng được quy định tại điều 37: “Điều 37. Phòng vệ chính đáng 1.Không phải là tội phạm khi gây thiệt hai trong trang thái phòng vệ chính đáng trước người có hành vi nguy hiểm, xâm hại đến cá nhân, đến quyên và lợi ích hợp pháp của người phòng vệ hoặc những người khác, của xã hội hoặc nhà nước nếu sự xâm hại này sử dụng vũ lực hoặc trực tiếp đe dọa dùng vũ lực gây nguy hiểm cho tính mạng người phòng vệ hoặc người khác.
Như vậy, Bộ luật hình sự của liên bang Nga đã loại trừ tính nguy hiểm cho xã 13 hội (tính tội phạm) của hành vi gây thiệt hại mà người phòng vé tạo ra cho người có hành vi nguy hiểm khi mà tính mạng của người phòng vệ hoặc người khác bị đe dọa (hoặc có khả năng bị đe dọa trực tiếp) bởi những hành vi này. Không những thế, khoản 3 điều 37 Bộ luật này còn quy định “ Những hành động của người phòng vệ được coi là không vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nếu người này đã không thể đánh giá đúng mức tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tan công do sự xâm hại xảy ra quá bat ngờ” [50]. Quy định này tiết tục loại trừ trách nhiệm hình sự cho người phòng vệ bởi sự nguy hiểm ập đến quá bất ngờ, ngay cả trong trường hợp hành vi chống trả của họ có thể vượt quá mức can thiết. Giống như Liên bang Nga, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997, sửa đổi bổ sung 2005 cũng có quy định về phòng vệ chính đáng trong phần chung “tội phạm và trách nhiệm hình sự”: “Người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng nhằm ngăn chặn hành vi bat hợp pháp xâm hại các lợi ích cua Nhà nước, xã hội, các quyền nhân thân, tai sản và các quyên khác của mình hoặc của người khác, gây thiệt hại cho người có hành vi xâm hại bat hợp pháp, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự” và “.
Người có hành vi phòng vệ đối với tội phạm đang hành hung, giết người, cướp của, hiến dâm, bắt cóc hoặc các tội bạo lực khác, gây thương tích hoặc làm chết người phạm lội, không thuộc trường hợp vượt quả giới hạn phòng vệ, không phải chịu trách nhiệm hình sự” [28]. Như vậy phòng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự Trung Hoa cũng là trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự, và sự phòng vệ không chỉ để nhăm bảo vệ sức khỏe và an ninh cá nhân mà còn bảo vệ cả các quyên lợi liên quan đên tài sản và các quyên khác. 14 Tại Việt Nam, chế định về phòng vệ chính đáng xuất hiện từ rất sớm. Trong lịch sử, từ bộ luật Hồng Đức, chế định phòng vệ chính đáng đã xuất hiện khi có những điều luật giảm nhẹ tội cho người phòng vệ, cụ thê như trong bộ luật quy dinh: “Hai bên đánh nhau cùng bị thương, thì sẽ tùy theo nặng nhẹ ma chiếu luật bắt tội cả hai; kẻ đánh sau mà lý lại phải thì được giảm tội hai bậc; nếu đánh chết thì không được giảm” (Điều 7 chương đâu tụng) [32]; hay “Những kẻ ban đêm vô có vào nhà người ta, thì xử tội đỗ; chủ nhân đánh chết ngay lúc ấy thì không phải tội; nếu đã bắt được mà đánh chết, đánh bị thương, thì phải tội đánh nhau chết hay bị thương, mà giảm ba bậc.
Đến sau khi nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời, quy định về phòng vệ chính đáng cũng được quan tâm nghiên cứu. Lần đầu tiên vấn đề phòng vệ chính đáng được đưa vào Bộ luật hình sự Việt Nam là tại khoản 1, Điều 13 Bộ Luật Hình sự năm 1985: “Phong vệ chính đáng là hành vi vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính dang của minh, của người khác mà chống trả lại một cách tương xứng người có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm. ” Đến Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đôi bổ sung năm 2009, quy định về phòng vệ chính đáng cũng được sửa đổi bổ sung khi từ “#ương xứng” được thay bang từ “cẩn thiét” bởi trong quy định trước đấy, từ “twong xứng” dễ gây hiểu lầm rằng người gây thiệt hại hoặc có ý muốn gây thiệt hại hành động 15 thế nào thì người bị đe dọa quyền, lợi ích chính đáng, người đang ở trong thế tự vệ cũng chỉ được có hành động tương đương để đáp trả, hay hiểu đơn giản là mức nghiêm trọng của thiệt hại do người phòng vệ gây ra không được lớn hơn mức thiệt hại do đối tượng xâm hại có ý định gây ra.