CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước Trên thế giới hiện nay có rất nhiều công trình khoa học kỹ thuật nghiên cứu về sự suy giảm công suất của động cơ Diesel theo thời gian khai thác, đặc biệt là của các hãng sản xuất động cơ như: MAN & BW, MITSUBITSHI, WARTSILA… Từ những kết quả nghiên cứu này, các hãng đã cho ra đời những loại động cơ mới có tính ưu việt hơn kéo dài tuổi thọ của động cơ phù hợp với tình hình phát triển chung của thế giới. Việc nghiên cứu này đã giúp ích rất nhiều cho việc khai thác động cơ và các động cơ này sẽ tiết kiệm nhiên liệu, cho ra hiệu suất cao hơn. Đối với tính kinh tế có những đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của góc phun sớm tới quá trình cháy, hay ảnh hưởng lượng không khí nạp vào buồng đốt động cơ. Ngoài ra kết quả nghiên cứu này còn làm giảm được lượng khí thải NOx ra môi trường… Trong nước, việc tính toán sự suy giảm công suất của động cơ Diesel được áp dụng cho tất cả các đội tàu Việt Nam, từ phòng kỹ thuật cho tới sỹ quan khai thác trên tàu.
Tuy nhiên qua tìm hiểu tác giả nhận thấy rằng việc xây dựng tính toán sự suy giảm công suất của động cơ Diesel của hãng Man & BW thì chưa có.2 Các vấn đề cần nghiên cứu trong luận văn Trong luận văn tác giả tập trung nghiên cứu các quá trình công tác ở động cơ Diesel đặc biệt là động cơ của hãng Man & BW. Việc nghiên cứu các quá trình công tác này sẽ giúp cho việc khai thác động cơ an toàn và đạt hiểu quả cao hơn. Trong chương 2 tác giả đã nêu lên được cơ sở lý thuyết về tính toán công suất cho động cơ và việc xác định công suất theo một số phương pháp khác nhau. Các vấn đề tiếp theo cần nghiên cứu trong luận văn đó là: ảnh hưởng bởi điều kiện làm mát bằng nước tới sự làm việc của động cơ; ảnh hưởng của việc cấp nhiên liệu cho quá trình cháy, đây là ảnh hưởng trực tiếp dẫn tới việc cháy đạt hiệu quả tốt hay không tốt; ảnh hưởng của áp suất khí quyển tới quá trình nạp không khí; ảnh hưởng của việc tăng nhiệt độ và độ ẩm không khí tới quá trình nạp, nén của 13 động cơ.
Từ những ảnh hưởng này, ta sẽ điều chỉnh được các quá trình cháy trong động cơ đạt hiểu quả tốt hơn. Sau khi đã đưa ra được cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thì tác giả đã lựa chọn phần mềm để thử nghiệm và cho ra kết quả. Trong luận văn này tác giả dùng phần mềm MATLAB để chạy chương trình. 14 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Đặc tính công tác của động cơ Diesel tàu thủy Khai thác hệ động lực tàu thủy được tiến hành trong các điều kiện khác nhau rất đa dạng được đặc trưng bởi các yếu tố khai thác do đó mà kèm theo sự thay đổi của các thông số công tác của động cơ cũng như của hệ động lực tàu thủy.
Để đánh giá chất lượng làm việc của động cơ ở các chế độ khác nhau, người khai thác thường so sánh các thông số thu được trong các chế độ khai thác cụ thể với các thông số định mức của động cơ. Các thông số làm việc của động cơ trong khai thác được xác định bằng nhiều phương pháp khác nhau tùy thuộc vào động cơ chính và hệ động lực của con tàu đặc biệt đối với các thế hệ tàu đóng trong những năm gần đây, việc xác định các thông số công tác tương đối dễ dàng và thuận lợi. Đặc tính động cơ là hàm số biểu thị sự thay đổi một trong các thông số công tác chủ yếu của động cơ so với các chỉ tiêu công tác khác. Đặc tính của động cơ dùng để đánh giá tính kinh tế, kỹ thuật, an toàn tin cậy trong qúa trình công tác của động cơ.2 Cơ sở lý thuyết xác định công suất động cơ Diesel của hãng MAN & BW 2.1 Áp suất có ích bình quân, 𝒑𝒆 a.
Định nghĩa Áp suất chỉ thị bình quân là một thông số được đo (hoặc tính toán) ở trong xilanh động cơ nhưng nếu quy về vị trí tại đầu ra của trục khuỷu động cơ thì ta phải tính đến phần tổn hao cho các tổn thất cơ giới. Trong khai thác động cơ Dielsel tàu thủy vấn đề đặt ra là phải xác định công suất động cơ (hoặc phải đánh giá đúng khả năng phát ra công suất của động cơ). Việc xác định công suất của động cơ có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm hai nhóm phương pháp là phương pháp trực tiếp và gián tiếp. Phương pháp trực tiếp Có thể xác định công suất chỉ thị của động cơ nhờ thiết bị đo đồ thức xác định áp suất chỉ thị bình quân Pi sau đó xác định Ne, Ni nhờ tính tóan Hình 2.1 Thiết bị đo đồ thức Indicator Xác định công suất ích nhờ thiết bị đo momen xoắn có nhiều loại thiết bị của các hãng khác nhau theo nguyên lý khác nhau nhờ đọc được số liệu từ đó tính ra giá trị công suất, hoặc có thể đọc ngay công suất nhờ đã tính sẵn chỉ ngay trên thiết bị đo.
Công suất trên trục của động cơ được đo bởi thiết bị đo mô men xoắn kết hợp với thiết bị đo vòng quay (công suất tỷ lệ với kết quả của mô men và tốc độ quay). Công thức tính công suất ở máy kiểu rô to (đo công suất trục chân vịt) 𝜋𝑛 𝑁= 𝑀 (𝑤) (2-2) 30 𝑥 Trong đó: - Mx : Mô men xoắn (Nm) 16 - n: Vòng quay (v/p) c. Phương pháp gián tiếp Phương pháp xác định gián tiếp thông qua các thông số khai thác nhờ đồ thị hay bảng cho sẵn của các hãng chế tạo động cơ như: Công suất – thanh răng – công suất – vòng quay, công suất - phụ tải, công suất - nhiệt độ khí xả, công suất – vòng quay tuabin, công suất – áp suất tăng áp … ở phương pháp này độ chính xác phụ thuộc rất nhiều vào người sử dụng. cũng có thề xác định công suất nhờ thông qua chi phí nhiên liệu đo đuợc và xác định công suất nhờ công thức: 𝐺 (2-3) 𝑁𝑒 = 𝑔𝑒 Trong đó: - G:là lươ ̣ng tiêu thu ̣ nhiên liê ̣u (g/h) - ge:suấ t tiêu hao nhiên liê ̣u có ić h(g/h) Đối với các động cơ trung và cao tốc bố trí trên tàu thuỷ, ngoài một số trang thiết bị đo chuyên dùng bằng điện tử, hầu hết phải xác định công suất thông qua các phương pháp gián tiếp.
Cơ sở của các phương pháp này là dựa trên các kết quả thu được trong quá trình thử nghiệm động cơ ở một số điều kiện cụ thể. Tuỳ thuộc vào tình trạng kỹ thuật của hệ động lực cũng như các điều kiện khai thác tàu mà người khai thác áp dụng và tính toán để có kết quả đo chính xác nhất.2 Áp suất chỉ thị, 𝒑𝒊 pi có thể được xác định cho từng xi lanh, nhờ vào thiết bị để đo đồ thị công chỉ thị. Công suất chỉ thị của cả động cơ sẽ là công gộp các công suất chỉ thị của từng xi lanh. 𝐴 𝑝𝑖 = (𝑏𝑎𝑟) (2-4) 𝐿 𝑥 𝐶𝑠 Trong đó: - A: Diện tích của indicator (mm2) - L: chiều dài của indicator (mm) 17 - Cs: Hệ số (mm/bar) – tỷ lệ xích của đồ thị 2.3 Công suất động cơ, 𝑵𝒊 Công suất chỉ thị (𝑵𝒊) Công suất chỉ thị là công suất được xác định trong xilanh của động cơ.
Với bao gồm cả phần công suất có ích (trên trục ra) và công suất chỉ thị cho ma sát và các hành trình bơm của động cơ.4 Công suất có ích, 𝑵𝒆 Công suất có ích 𝑵𝐞 của động cơ là công suất được xác định tại mặt bích đầu ra của trục khuỷu của động cơ. Công suất có ích bằng công suất chỉ thị trừ đi các tổn thất cho cơ giới và được tính như sau: 𝑁𝑒 = 𝑁𝑖 − 𝑁𝑚 (2-6) Trong đó: - 𝑁𝑚 là công suất tiêu hao cho các tổn thất cơ giới Hoặc: 𝑁𝑒 = 𝑁𝑖 𝑥 𝜂𝑚 Chú ý rằng: 𝑝𝑒 = 𝑝𝑖 𝑥 𝜂𝑚 Hoặc: 𝐷 2 𝑥 𝑆 𝑥 𝑖 𝑥 𝑛 𝑥 𝑝𝑒 (2-7) 𝑁𝑒 = 0,785 (𝑚ã 𝑙ự𝑐 𝑐ó í𝑐ℎ) 0,45 𝑥 𝑚 Hay: 𝑁𝑒 = 𝑘2 𝑥 𝑛 𝑥 𝑝𝑒 (𝑘𝑊) (2-8) Trong đó: - n: vòng quay của động cơ (v/p) - 𝑘2 = 1,309 𝑥 𝐷 2 𝑥 𝑆 (𝑘𝑊) Bảng 2.1 Hệ số 𝒌𝟐 Loại động cơ 𝑘2 (𝑘𝑊) 𝑘2 (𝐻𝑃) 18 S46MC-C 0,5351 0,7276 L50MC 0,5301 0,7208 S50MC 0,6250 0,8498 S50MC-C 0,6545 0,8899 L60MC 0,9161 1,2455 2.5 Các yếu tố hạn chế công suất động cơ Công suất của một ĐCĐT bị hạn chế bởi hai yếu tố: - Suất nhiên liệu cho phép giới hạn (chu trình), khi đó giữ nguyên được hệ số dư lượng không khí cần thiết và nhiệt độ của các chi tiết cụm piston - xi lanh. - Số vòng quay bị hạn chế do ứng suất cơ khí trong các chi tiết và áp lực riêng trong các ổ đỡ do các lực ly tâm quán tính của khối lượng các chi tiết chuyển động thẳng và quay.6 Công suất yêu cầu đối với ĐCĐT Công suất yêu cầu của các động cơ để bảo đảm được tốc độ hành trình cho trước của con tàu, được xác định bằng sự phụ thuộc của công suất kéo có ích vào tốc độ của tàu, bằng sự tổn hao khi truyền công suất cho chân vịt và hiệu suất chân vịt. Công suất này của động cơ nằm trong thành phần của trạm năng lượng, với tốc độ thiết kế của tàu, được xác định bằng phương trình: 𝑁𝑒 𝑁𝑒𝑦𝑐 = (2-9) 𝜂𝑐𝑣 𝜂𝑡𝑑 𝜂ℎ𝑡 𝜂𝑘 𝑍 𝑥 𝐾 Trong đó: - Ne : Công suất đẩy tàu - 𝜂𝑐𝑣 : Hiệu suất chân vịt; - 𝜂𝑡𝑑 : Hiệu suất bộ truyền động; - 𝜂ℎ𝑡 : Hiệu suất theo trục chân vịt; - 𝜂𝑘 : Hệ số ảnh hưởng giữa thân vỏ và chân vịt khi tàu hoạt động; 19 - Z: Số lượng chân vịt; - K: Số lượng động cơ lai một chân vịt.
Công suất yêu cầu của động cơ để bảo đảm tốc độ hành trình cho trước của tàu trong thời gian khai thác cần tăng lên do nhiều yếu tố ảnh hưởng của điều kiện khai thác.