CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG Chương 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu về dòng điện xoáy François Arago, một nhà toán học và nhà vật lý người Pháp, là người đầu tiên quan sát và nghiên cứu về dòng xoáy vào thế kỷ 19. Ông cũng phát hiện một hiện tượng gọi là từ trường quay. Công trình nghiên cứu của ông đã được Michael Faraday hoàn thiện và giải thích.
Emil Lenz, một nhà vật lý người Đức, đã đề xuất Luật Lenz vào năm 1834. Định luật này nói về mối quan hệ giữa dòng điện được tạo ra trong một vật thể dẫn điện và trường từ mà nó tạo ra.Theo định luật Lenz, khi có một sự thay đổi trong trường từ xung quanh một vật thể dẫn điện, dòng điện sẽ được tạo ra trong vật thể đó. Tuy nhiên, hướng của dòng điện này sẽ luôn tạo ra một trường từ chống lại sự thay đổi ban đầu trong trường từ. Định luật Lenz thường được sử dụng để giải thích hiện tượng của dòng điện cảm ứng, trong đó dòng điện được tạo ra bởi sự biến đổi của trường từ, như trong trường hợp của dòng điện xoáy.
Léon Foucault, một nhà vật lý người Pháp, được ghi nhận là người đã phát hiện ra dòng xoáy. Ông đã thực hiện thí nghiệm với một đĩa đồng và một nam châm vào năm 1855, phát hiện ra rằng lực cần thiết để quay đĩa đồng tăng lên khi đặt giữa hai cực của một nam châm, cùng với việc đĩa trở nên nóng bởi dòng xoáy. Dòng điện điện xoáy là các dòng điện được tạo ra trong các vật liệu dẫn điện kim loại khi chúng tiếp xúc với các trường từ có biến thiên theo thời gian. Hiện tượng dòng điện xoáy là kết quả của nguyên tắc điện từ của Faraday, mà theo đó một trường từ biến đổi có thể tạo ra một dòng điện trong một vật thể dẫn điện.
Trong trường hợp của dòng điện xoáy, các dòng này tạo ra các vòng xoáy trong vật liệu dẫn điện, tạo ra một trường từ phụ thuộc và làm mất năng lượng từ trường từ ban đầu đã tạo ra chúng. Điều này làm tăng cản trở và có 5 Lê Văn Tiến 6 2170682 thể gây ra sự tiêu biến của năng lượng từ trường từ ban đầu. Dòng xoáy thường xuất hiện dưới dạng các dòng điện cảm ứng trong gần như tất cả các vật liệu dẫn điện kim loại, từ tính hoặc không từ tính, khi chúng tiếp xúc với các trường từ có biến thiên theo thời gian [3].Dòng điện xoáy còn tồn tại hay biến mất sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố.1 Cảm ứng của dòng điện Ngoài các yếu tố khác như tính chất vật lý của môi trường, yêu cầu thiết yếu của việc tạo ra dòng điện xoáy còn liên quan đến: a) Chuyển động tương đối của môi trường trong không gian đối với từ trường từ một nguồn thích hợp. (a) Dòng điện xoáy được tạo ra bởi sự chuyển động của nam châm Trong hình 2.1a, chuyển động qua lại của một nam châm vĩnh cửu đối với một đĩa kim loại đứng yên dẫn đến cảm ứng EMF trong đĩa, dẫn đến dòng điện xoáy khép kín.
Hiệu ứng tương tự sẽ đảm bảo nếu nam châm được giữ cố định và đĩa di chuyển qua lại so với nam châm. Trong cả hai trường hợp, từ trường có độ lớn không đổi và một chiều, không thay đổi theo thời gian. Ngoài ra, đĩa có thể được bố trí để quay trong khe hở không khí của các cực của một nam châm vĩnh cửu đứng yên, dẫn đến cảm ứng dòng điện xoáy trong đĩa, nhưng có sự phân bố khác. b) Sự tiếp xúc của môi trường kim loại với từ trường đang thay đổi hoặc thay đổi theo thời gian theo một cách cụ thể.1b liên quan đến đĩa bị tác động bởi một từ trường, được tạo ra bởi một cuộn dây lõi sắt, cuộn dây của nó được kích thích bởi một dòng điện xoay chiều có độ lớn thay đổi theo thời gian; tình trạng này thường xuyên gặp phải ở hầu hết các máy, thiết bị và thiết bị xoay chiều.
LVTN CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Lê Văn Tiến 7 2170682 (b) Dòng điện xoáy được tạo ra bởi sự thay đổi của từ trường theo thời gian Hình 2.1: Hai trường hợp tạo ra dòng điện xoáy [3] 2.1 Nguyên tắc cơ bản tạo dòng điện xoáy Việc tạo ra dòng điện xoáy dựa trên các định luật cơ bản của cảm ứng điện từ. Các định luật nêu rõ rằng: i) Từ trường biến thiên gây ra một lực điện từ, EMF, trong ống dẫn điện hoặc môi trường dẫn điện. ii) EMF được tạo ra tỷ lệ thuận với tốc độ thay đổi của trường (theo thời gian).
iii) Hướng của EMF cảm ứng phụ thuộc vào hướng của trường.2 EMF được tạo ra bởi chuyển động Khi EMF cảm ứng trong môi trường như trong đĩa kim loại ở hình 2.1a là do chuyển động tương đối của từ trường so với môi trường. Giả sử môi trường là một dây dẫn có chiều dài l (m) cắt một từ trường đều có mật độ từ thông B (T) với vận tốc không đổi v (m/s), các đại lượng vuông góc với nhau theo hình 2.2, EMF được xác định bởi công thức: EM F = Blv (2.1) sẽ xuất hiện trong dây dẫn và nếu hai đầu dây dẫn bị ngắn mạch thì dòng điện được sinh ra tính theo công thức: EM F i= (2.2) R trong đó i (A) là dòng điện, R (Ω) là điện trở mạch kín bao gồm điện trở dây dẫn và liên kết ngắn mạch.6) cũng được giải thích bằng cách áp dụng "Quy tắc bàn tay phải của Fleming" được mô tả bằng sơ đồ hình 2. Điều quan trọng là từ trường và chuyển động phải vuông góc, nếu không cường độ của EMF cảm ứng sẽ giảm tương ứng khi xem xét biểu thức lượng giác thích hợp để tính đến độ nghiêng tương đối. LVTN CHƯƠNG 2.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Lê Văn Tiến 8 2170682 Hình 2.2: Tạo ra EMF chuyển động [3] Hiện tượng dòng điện xoáy cảm ứng xảy ra trong nhiều trường hợp khác nhau trong thực tế, ví dụ như trong hình 2.1a, có thể không thẳng góc như được biểu thị bằng mối quan hệ EMF đã nêu ở trên. Tuy nhiên, có hai khía cạnh cơ bản của hiện tượng này: a) Chuyển động tương đối gây ra EMF trong môi trường dẫn điện theo định luật Faraday. b) EMF cảm ứng biểu hiện dưới dạng dòng điện mạch kín trong các mặt phẳng thích hợp của môi trường và được xác định là dòng điện xoáy. Các biểu thức thực tế của EMF cảm ứng và dòng điện nói chung sẽ phụ thuộc vào cấu hình cụ thể của từ trường và môi trường dẫn điện cũng như cách thức chuyển động tương đối được thực hiện, bên cạnh độ lớn và định hướng của các đại lượng khác nhau có liên quan.3: Quy tắc tay phải Fleming LVTN CHƯƠNG 2.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Lê Văn Tiến 9 2170682 2.3 EMF cảm ứng tĩnh và dòng điện Khi không có chuyển động hoặc chuyển động tương đối trong không gian giữa từ trường và môi trường, thì cả hai xem như đứng yên trong không gian, nhưng chuyển động trước đó thay đổi theo thời gian, ví dụ như chuyển động được tạo ra bởi dòng điện xoay chiều như trong hình 2.1b, EMF sinh ra tuân theo định luật thứ hai của Faraday theo công thức: dφ EM F = (2.3) dt trong đó φ là từ trường biến thiên theo thời gian mà môi trường tiếp xúc.3) là biểu thức chung: không có hạn chế nào đối với cách xác định hoặc thay đổi cách thức φ được xác định hoặc thay đổi theo thời gian và EMF cảm ứng sẽ được tính theo đạo hàm theo thời gian của mật độ thông lượng từ tức thời này sang tức thời khác. Các dòng điện cảm ứng sau đó sẽ được xác định bằng cách chia EMF cho điện trở mạch mà dòng điện sẽ chạy qua. Một ví dụ về dòng điện xoáy trong thực tế do từ thông xoay chiều được minh họa trên hình 2.4, dòng điện xoáy được sinh ra trong thanh dẫn hình chữ nhật khi có từ thông biến đổi do điện áp xoay chiều đặt vào cuộn dây kích thích. Khi đặt điện áp xoay chiều vào cuộn dây kích thích, sẽ sinh ra từ trường biến đổi theo thời gian.
Từ trường biến đổi này cắt ngang thanh dẫn hình chữ nhật, gây ra hiện tượng cảm ứng điện từ, sinh ra dòng điện xoáy trong thanh dẫn. Chiều của dòng điện xoáy phụ thuộc vào chiều của từ trường biến đổi và vị trí của thanh dẫn. Cường độ của dòng điện xoáy phụ thuộc vào tốc độ biến đổi của từ thông, độ dẫn điện của vật liệu. dẫn điện và kích thước của thanh dẫn.4: Dòng điện xoáy cảm ứng trong một dây dẫn đặc hình chữ nhật Trong hình 2.4, thanh dẫn hình chữ nhật được đặt cố định.
Tuy nhiên, nếu thanh dẫn chuyển động trong từ trường biến đổi, thì dòng điện xoáy sinh ra sẽ LVTN CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Lê Văn Tiến 10 2170682 lớn hơn và có thể tạo ra lực đẩy hoặc lực hãm lớn hơn. Nguyên lý này được ứng dụng trong các động cơ điện và phanh điện từ. Ngoài ra, cuộn dây kích thích được quấn nhiều vòng.
Việc quấn nhiều vòng sẽ làm tăng độ từ trường và do đó làm tăng cường độ dòng điện xoáy. Nguyên lý này được ứng dụng trong các lò nung cảm ứng và máy biến áp. Rõ ràng là từ biểu thức trên (2.3), cho thấy độ lớn của EMF cảm ứng và các dòng điện sẽ phụ thuộc vào độ lớn của từ thông và tốc độ thay đổi theo thời gian của nó: nói cách khác là tốc độ thay đổi càng nhanh hơn tần số biến đổi từ thông càng cao thì EMF sẽ càng lớn.4 Các thông số ảnh hưởng đến cảm ứng dòng điện trong môi trường kim loại Trong các hiện tượng điện từ, sự phát sinh của điện từ cảm ứng và dòng điện cảm ứng phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau. Trong trường hợp của điện từ cảm ứng, nó phụ thuộc vào từ thông và vận tốc chuyển động tương đối giữa các mạch dẫn điện.
Đối với các trường hợp đặc biệt như EMF cảm ứng tĩnh, thì tần số của dòng điện có thể thay đổi theo từ thông. Trong khi đó, dòng điện cảm ứng thì phụ thuộc vào điện trở suất của môi trường. Khi xét thông lượng thuần, ta cũng phải tính đến hiệu ứng từ của dòng điện cảm ứng, theo định luật Lenz, có thể được áp dụng đối với môi trường kim loại. Hiệu ứng cảm ứng trên đường đi của dòng điện cũng có thể gây ra sự hạn chế đối với dòng điện chảy qua mạch.