Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1. Đối tượng nghiên cứu của đàn hồi khí động 1. Sơ lược lịch sử phát triển và nghiên cứu vấn đề đàn hồi khí động Khi nghiên cứu về động lực học bay, ta thường coi máy bay như chất điểm (để nghiên cứu các đặc tính bay) và máy bay như vật thể cứng tuyệt đối, có thể chuyển động theo các trục và quay quanh các trục (để nghiên cứu ổn định và điều khiển máy bay). Thực tế máy bay không phải là vật cứng tuyệt đối, dưới tác dụng của ngoại lực các thành phần kết cấu biến dạng (uốn và xoắn cánh – hình 1.1) làm thay đổi đặc tính khí động cũng như hạn chế khả năng chịu tải của kết cấu khi tốc độ bay tăng, khi có xung va chạm khi hạ cánh, hoặc khi gặp các dòng nhiễu động trong quá trình bay.
Có thể nói độ cứng của máy bay là nguyên nhân quyết định đến việc xuất hiện hoặc loại trừ các hiện tượng đàn hồi khí động (ĐHKĐ). Các hiện tượng ĐHKĐ xuất hiện ngay từ khi có khí cụ bay nặng hơn không khí, song ở thời kỳ đó, người ta ít hiểu biết về bản chất và chưa có điều kiện nghiên cứu về nó. Vì vậy đã có nhiều tổn thất và tai nạn do các hiện tượng ĐHKĐ gây nên. Đầu năm 1930, xảy ra tai nạn do hiện tượng xoắn phá huỷ cánh máy bay một tầng của giáo sư Samuel Langleye (Mỹ).
Sau đó, với máy bay hai tầng cánh, anh em nhà Wright thử nghiệm bay thành công nhiều lần. Khi đó người ta cho rằng máy bay hai tầng cánh bền hơn, nên ở Mỹ đến cuối chiến tranh thế giới thứ nhất người ta đã sản xuất chủ yếu loại máy bay hai tầng cánh. Do yêu cầu về tốc độ máy bay lớn, trọng lượng kết cấu nhỏ nên người ta đã lại phải nghiên cứu để sản xuất máy bay một tầng cánh. Ở Đức, thời gian đó người ta sử dụng máy bay tiêm kích Fokker–D8 – là loại máy bay một tầng cánh đặt trên thân, nó đạt tốc độ nhanh hơn, nhẹ hơn các loại máy bay thời kì 5 Luận văn Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật khóa 2006 - 2008 đó.
Song cũng do độ cứng chống xoắn nhỏ nên đã xảy ra nhiều hiện tượng cánh bị phá huỷ khi bay đối với loại máy bay này. Máy bay hai tầng cánh, ở tốc độ nhỏ thì hệ thống chịu mômen xoắn ở cánh rất lớn, đủ khả năng chống lại biến dạng, song do độ cứng của thân đuôi nhỏ nên ở đây lại xảy ra nhiều hiện tượng khí động đàn hồi khác. Ví dụ như máy bay chiến đấu Handley – page 0/400 của Anh trong thời kì chiến tranh thế giới thứ nhất. Máy bay có hai đuôi đứng và đuôi ngang rất nhạy với hiện tượng “rung lắc” tự kích (flutter), đã nhiều lần xảy ra rung động mạnh dẫn đến phá huỷ kết cấu khi bay.
Nguyên nhân chính dẫn đến các tai nạn ở máy bay này là do nối hai phần bánh lái lên xuống không đủ cứng (nối qua hệ thống dây) và cũng do các bánh lái lên xuống không được cân bằng tuyệt đối. Cũng với nguyên nhân tương tự đã xảy ra rất nhiều tai nạn với các loại máy bay khác của Anh, ví dụ như ở máy bay DH–9. Vào những năm 30 của thế kỉ 20, do cần tăng tốc độ bay, người ta sử dụng máy bay một tầng cánh, nhiều tai nạn do các hiện tượng ĐHKĐ lại xuất hiện. Lúc này vấn đề ĐHKĐ bắt đầu được các nhà khoa học trên thế giới chú ý đến.
Nhà toán học Xô Viết Traplưgin đã nghiên cứu hiện tượng chảy không ổn định qua cánh máy bay, trên cơ sở đó viện sĩ Ken-đus đã bắt đầu nghiên cứu bản chất của hiện tượng “rung lắc” tự kích (flutter). Năm 1933, Ken-đus cùng với Grosman ở trung tâm nghiên cứu thuỷ khí Xagi đã đưa ra các phương pháp có hiệu quả để chống lại những ảnh hưởng nguy hại của các hiện tượng đàn hồi khí động này. Tốc độ bay càng tăng thì càng xuất hiện nhiều dạng “rung lắc” tự kích (flutter) khác nhau và vấn đề ĐHKĐ ngày càng được các nhà thiết kế và sản xuất máy bay quan tâm. Khi trọng lượng máy bay tăng, sải cánh tăng, tốc độ hạ cánh sẽ cần phải nghiên cứu ảnh hưởng của các xung va chạm khi hạ cánh cũng như ảnh hưởng của biến dạng đàn hồi khi máy bay bay qua dòng nhiễu động.
Trong thời gian trước chiến tranh thế giới thứ hai, do các tấm điều khiển trợ lực trên máy bay có độ cứng quá nhỏ hoặc không được cân bằng nên đã 6 Luận văn Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật khóa 2006 - 2008 xuất hiện nhiều dạng “rung lắc” tự kích (flutter) khác nhau, gây nhiễu và tai nạn cho các máy bay tiêm kích. Khi tốc độ bay đạt gần tới tốc độ âm thanh thì lại xuất hiện nhiều loại “rung lắc” cưỡng bức (bafting) ở đuôi máy bay cũng như hiện tượng “rung lắc” tự kích (flutter ) trên máy bay. Cũng do rung động, lắc và do không quan tâm, nghiên cứu đầy đủ về vấn đề khí động đàn hồi mà nhiều loại máy bay không sử dụng được (như máy bay vận tải với động cơ tuabin cánh quạt Lockheed Electra vào những năm 60). Ngày nay với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, vấn đề ĐHKĐ được nghiên cứu kĩ lưỡng hơn và trở thành một nghành khoa học như các nghành khí động học, cơ học bay, cơ học kết cấu cũng như các nghành khoa học khác trong công nghệ chế tạo khí cụ bay.
Đối tượng nghiên cứu và phân loại các hiện tượng đàn hồi khí động Đàn hồi khí động nghiên cứu các mối quan hệ lẫn nhau giữa ba nhóm lực: - Lực khí động - Lực đàn hồi - Lực quán tính Hình 1.2 là mô hình “Tam giác khí động đàn hồi” (Collar – 1946). Nhìn vào tam giác này có thể thấy mối liên hệ giữa các lĩnh vực nghiên cứu trong cơ học hàng không: Lực khí động + Lực đàn hồi : Khí động đàn hồi tĩnh Lực khí động + Lực đàn hồi + Lực quán tính : Khí động đàn hồi động Lực đàn hồi + Lực quán tính : Dao động cấu trúc Lực khí động + Lực quán tính : Cơ học bay 7 Luận văn Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật khóa 2006 - 2008 Uốn cánh Uốn – xoắn cánh Hình 1. Biến dạng đàn hồi khí động a) Cánh bị uốn b) Cánh bị uốn và xoắn - Hiệu ứng tăng góc tới Lực quán tính Dao động Cơ học bay kết cấu Khí động đàn hồi động Lực khí động Lực đàn hồi Khí động đàn hồi tĩnh Hình 1. Tam giác khí động đàn hồi 8 Luận văn Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật khóa 2006 - 2008 1.
Phân loại về bản chất chung của các hiện tượng đàn hồi khí động 1. Hiện tượng phá hủy đàn hồi khí động tĩnh Các hiện tượng ĐHKĐ tĩnh xét đến sự tham gia của lực khí động và lực đàn hồi. Đặc trưng chung của các hiện tượng này là biến dạng uốn và xoắn tách biệt. Trong nhóm các hiện tượng ĐHKĐ tĩnh, có hiện tượng đặc trưng sau: Xoắn phá hủy cánh.
Do cánh không đủ độ cứng nên dưới tác dụng của lực khí động kết cấu bị biến dạng, biến dạng kết cấu làm tăng góc tới cánh, do lực khí động phụ thuộc góc tới nên khi góc tới tăng làm tăng thêm lực khí động. Cứ như vậy đến một tốc độ bay nào đó gọi là tốc độ tới hạn của hiện tượng thì độ bền, độ cứng của kết cấu không còn khả năng chống lại hiện tượng xoắn cánh nữa; lúc đó kết cấu bị phá hủy (có thể nói góc xoắn lớn đến vô cùng). Các hiện tượng đàn hồi khí động động Các hiện tượng ĐHKĐ động là các hiện tượng ĐHKĐ có sự tham gia đồng thời của ba lực: lực khí động, lực đàn hồi và lực quán tính. Đặc trưng chung của các hiện tượng này là dao động.
Trong nhóm các hiện tượng ĐHKĐ động, có các hiện tượng đặc trưng sau: Hiện tượng “ rung lắc” tự kích (flutter) Bản chất của hiện tượng này là dao động điều hòa tự kích của một thành phần kết cấu nào đó khi có sự tham gia đồng thời của ba lực (lực đàn hồi, lực khí động và lực quán tính). Trong dao động kết cấu xuất hiện lực cản dao động và lực kích thích dao động của kết cấu, tốc độ bay càng tăng thì lực kích thích duy trì dao động càng lớn, đến một tốc độ nào đó gọi là tốc độ tới hạn, dao động kết cấu có biên độ không đổi. Nếu tốc độ bay lớn hơn tốc độ tới hạn đó, kết cấu bị phá hủy. Hiện tượng “rung lắc” cưỡng bức (bafting) 9 Luận văn Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật khóa 2006 - 2008 Là hiện tượng rung lắc một thành phần kết cấu nào đó (thường là đuôi máy bay).
Bản chất của hiện tượng này là dao động cưỡng bức kết cấu, do xoáy của dòng khí bị đứt dòng khi chảy qua các thành phần kết cấu ở phần trước tác dụng khi tần số của các xoáy (đóng vai trò tần số của lực kích thích) trùng với tần số dao động riêng của phần kết cấu nào đó của máy bay sẽ sinh ra cộng hưởng và do vậy mà kết cấu bị phá hủy. Hiện tượng phản ứng động lực Hiện tượng xuất hiện khi có tác dụng đồng thời của ba lực lên kết cấu và khi bay qua dòng nhiễu động (thường tác động xung hay theo chu kỳ) hoặc do xung va chạm khi máy bay tiếp đất hạ cánh. Do tác dụng như vậy mà có thể xuất hiện quá tải quá lớn gây phá hủy kết cấu. 10 Luận văn Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật khóa 2006 - 2008 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐÀN HỒI KHÍ ĐỘNG TĨNH 2.
Giới thiệu Tương tác giữa lực khí động và lực đàn hồi có thể cụ thể hoá bằng sơ đồ trên hình 2. Tải khí động. (thay đổi theo vận tốc) Uốn cánh Xoắn cánh Mu Mx Chuyển vị: ∆z = Góc xoắn: ϕ = E.J Góc tới thay đổi: α i = α i −1 + ϕ Đ ∆z ≥ ∆zth S αi − αi −1 < ε S Đ THAY ĐỔI KẾT CẤU PHÁ HỦY CÁNH Hình 2. Sơ đồ tính toán đàn hồi khí động 11 Luận văn Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật khóa 2006 - 2008 Trên sơ đồ hình 2.1, Mu và Mx là mômen uốn và mômen xoắn; E là môdun đàn hồi; G là môdun đàn hồi trượt; I là mômen quán tính đối với trục x; J là mômen quán tính độc cực.
Lực nâng phân bố trên máy bay Khi máy bay đậu ở dưới mặt đất, cánh máy bay chịu tác động của trọng lực cánh máy bay.