MỞ ĐẦU 1. Cơ sở khoa học và lý do chọn đề tài nghiên cứu Sản xuất nông nghiệp là một lĩnh vực kinh tế quan trọng trong đời sống và phát triển của con ngƣời đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm. Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp thƣờng xuyên bị thiếu hụt vốn, nhất là những nƣớc có nền nông nghiệp sản xuất nhỏ đang trong quá trình phát triển lên nền nông nghiệp lớn hiện đại. Trong bối cảnh các nguồn vốn khác còn hạn chế nên TDNH vẫn là một trong những kênh quan trọng cung ứng vốn cho nông nghiệp, mặc dù đã có nhiều cố gắng song vì những lý do khác nhau việc cung ứng vốn TDNH cho nông nghiệp vẫn còn những hạn chế cần đƣợc tiếp tục khắc phục.
Thực trạng đó trở thành vấn đề nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc nhiều năm qua, có thể đề cập một số nghiên cứu đã công bố sau. Duong và Izumida (2002) khi nghiên cứu đối với các nông hộ ở ba tỉnh của Việt Nam cho rằng TDNH là cần thiết đối với nông dân Việt Nam, qua phân tích mô hình hồi quy kiểm duyệt (Tobit) cho thấy các yếu tố chính tác động tới lƣợng TDNH của nông hộ bao gồm, tổng diện tích đất canh tác, giá trị đàn gia súc, tỷ lệ nhân khẩu phụ thuộc và địa phƣơng, trong đó tổng diện tích đất canh tác là yếu tố hạn chế nhất [111]. Theo Kaleem và Wajid (2009) việc ứng dụng thỏa thuận bán trƣớc sản phẩm nông sản nhƣ một công cụ tín dụng trong nông nghiệp ở Pakistan, kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập từ nông nghiệp chỉ chiếm 60% thu nhập trung bình của mỗi nông hộ; có khoảng 70% nông dân tham gia vào thị trƣờng tín dụng, họ cần tiền để mua hạt giống, trả tiền nhân công và thuê máy móc; những ngƣời nông dân đƣợc khảo sát tin rằng họ có thể tiết kiệm đƣợc 50% chi phí nếu họ mua hạt giống bằng tiền mặt; khảo sát cũng chỉ ra rằng các thƣơng lái là những ngƣời cho vay, đồng thời cũng là những nhà thu mua nông sản lớn trong nền kinh tế nông thôn, nơi mà chỉ có 10% các giao dịch thuần túy bằng tiền mặt; theo đó nông dân thƣờng vay và trả lại tiền sau khi bán nông sản; điều đó cho thấy nhu cầu tín dụng nông nghiệp là cao, song việc tiếp cận TDNH là không phải đơn giản [115]. Turvey, He và Meagher (2011) đƣa ra mô hình 7Cs của tín dụng để thể hiện các yếu tố liên quan đến nhu cầu và khả năng z ii tiếp cận hệ thống tín dụng nông thôn ở Trung Quốc, bao gồm: tín dụng, đặc tính, nguồn lực, vốn, điều kiện, năng lực và tài sản thế chấp; lấy 7C làm căn cứ để xem xét cung ứng TDNH cho nông nghiệp [133].
Sakprachawut và Jourdain (2016) trong nghiên cứu về quyền sử dụng đất và các đặc tính của nông dân khi tham gia vào thị trƣờng tín dụng chính thức trong cuộc cải cách ruộng đất ở Thái Lan đã chỉ ra rằng tài sản đất đai ảnh hƣởng đáng kể đến khả năng tham gia vay vốn cũng nhƣ số tiền vay [128]. Theo Mamo Girma và các cộng sự (2015) thì khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ không chỉ bị chi phối bởi thu nhập và tài sản mà còn bị chi phối bởi các yếu tố về đặc điểm kinh tế - xã hội (KTXH) của các chủ hộ [119]. Đối với Việt Nam, từ một đất nƣớc nông nghiệp là chủ yếu đang trong quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), cũng đã xác định phát triển mạnh KTNo làm cơ sở vững chắc cho phát triển kinh tế đất nƣớc. ĐBSCL với lợi thế là vùng nông nghiệp lớn của cả nƣớc Việt Nam đƣợc chọn là nơi ƣu tiên phát triển KTNo.
Hàng năm vùng ĐBSCL sản xuất hơn 55% sản lƣợng lúa hàng hóa, 69% sản lƣợng thủy sản, 70% sản lƣợng trái cây, đóng góp hơn 90% sản lƣợng gạo xuất khẩu, 60% sản lƣợng thủy sản xuất khẩu cả nƣớc [3]. Trong thành tựu đáng kể đó có phần đóng góp quan trọng bởi nhiều chính sách và nỗ lực của Chính phủ, Bộ, Ngành đối với phát triển KTNo, nông thôn ĐBSCL, trong đó có chính sách tín dụng. Tuy nhiên có thể nhận biết là sự phát triển KTNo vùng ĐBSCL vẫn thiếu tính bền vững cần thiết, trong đó TDNH cũng rơi vào tình trạng tƣơng tự. Ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX đã có những quyết định nhằm phát triển tổng thể vùng ĐBSCL.
Cụ thể, đó là Quyết định số 99-TTg ngày 09/02/1996 về định hƣớng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 đối với việc phát triển thủy lợi, giao thông và xây dựng nông thôn vùng ĐBSCL, nhằm tạo thế và lực cho việc phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân vùng ĐBSCL [86]. Với quyết định này đã tạo nên một loạt những công trình góp phần làm thay đổi cơ bản KTXH vùng ĐBSCL, nhƣ công trình ngọt hóa bán đảo Cà Mau; công trình thoát lũ ra biển Tây; công trình phát triển Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mƣời; chƣơng trình nhà vƣợt lũ, dự án phát triển thủy lợi ĐBSCL,… Ngày 16/04/2009, Thủ tƣớng Chính phủ ký và ban hành Quyết định số 492/QĐ-TTg thành lập Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL [87]; ngày 12/02/2014, Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định z iii số 245/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL đến năm 2020, định hƣớng đến năm 2030 [88]; ngày 15/01/2018 Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số 68/QĐ-TTg về việc điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng ĐBSCL đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050… [90] Có thể thấy Chính phủ Việt Nam rất quan tâm phát triển ĐBSCL và Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL. Trong quy hoạch chỉ rõ mục tiêu phát triển Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL (sau đây gọi là Vùng hay Vùng KTTĐ) sẽ là Vùng phát triển năng động, có cơ cấu kinh tế hiện đại, hạ tầng đồng bộ, góp phần xây dựng ĐBSCL giàu mạnh. Những văn bản đó thể hiện nhận thức, đánh giá rõ rằng, Vùng KTTĐ và vùng ĐBSCL là vùng kinh tế quan trọng của cả nƣớc, giàu tiềm năng phát triển kinh tế, nhất là KTNo cần đƣợc chú trọng đầu tƣ để phát triển đúng tiềm năng.
Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL đƣợc thành lập từ năm 2009 đến nay tuy đã có những sự chuyển mình nhất định, song tình trạng của Vùng KTTĐ vẫn không có gì khác nhiều với phần còn lại của ĐBSCL nói chung trên các phƣơng diện nhƣ, đóng góp nhiều cho nền kinh tế đất nƣớc, nhƣng vẫn là vùng gần nhƣ thấp nhất nƣớc cả về văn hóa, y tế, giáo dục, nƣớc sạch; sản xuất vẫn trong tình trạng sản xuất nhỏ là chủ yếu, liên kết rời rạc, thiếu bền vững, sản xuất vẫn bấp bênh chƣa thật gắn kết với thị trƣờng. Vùng KTTĐ vẫn chƣa trở thành vùng kinh tế năng động, chƣa là động lực cho phát triển vùng ĐBSCL nhƣ mong muốn. Theo nhận định của Phó Thủ tƣớng Vũ Đức Đam tại hội nghị tổng kết phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng ĐBSCL giai đoạn 2011-2015 thì ĐBSCL vẫn là vùng trũng giáo dục (nhất là hệ thống mầm non) [30]. Trên thực tế, ngoại trừ Cần Thơ có sự phát triển khá hơn nhƣng nhìn chung trong Vùng phần lớn vẫn là nông nghiệp mang đậm dấu ấn thuần canh, sản xuất nhỏ, công nghệ mới còn rất ít và nhỏ bé, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết trong sản xuất, sản xuất thiếu gắn kết với thị trƣờng, luôn thiếu vốn cho sản xuất và đầu tƣ.
Trong đó vốn TDNH cho ĐBSCL, theo đánh giá chung của nhiều chuyên gia, của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ thì hiện tại nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng (TCTD) vùng ĐBSCL chỉ đáp ứng đƣợc khoảng trên dƣới 70% nhu cầu vay vốn để đầu tƣ cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn của ngƣời dân ĐBSCL, trong đó vốn cho vay trung, dài hạn chỉ đáp ứng đƣợc gần 30% [4]. Nhu cầu thực tế vay vốn rất lớn, nhƣng việc tiếp cận vốn TDNH, nhất là z iv vốn trung, dài hạn của nông dân vẫn còn là trở ngại lớn do nhiều khía cạnh nhƣ thời hạn vay vốn, hồ sơ thủ tục còn rƣờm rà, vƣớng mắc về tài sản đảm bảo (TSĐB), định mức cho vay, đã đẩy không ít nông dân phải đến với “tín dụng đen” và hệ lụy là làm không đủ để trả nợ. Một trong những khó khăn về vốn trung dài hạn là do các ngân hàng thƣơng mại (NHTM) chủ yếu chỉ huy động đƣợc vốn ngắn hạn, chiếm khoảng 70 – 80% [3]. Điều đó cho thấy TDNH hiện vẫn rất cần thiết đối với KTNo nói chung và cho Vùng KTTĐ nói riêng.
Về vấn đề này đƣợc không ít các nghiên cứu đề cập: Lý Hoàng Ánh và Lê Nhật Quý Thiệu (2013) cho rằng, với đặc điểm đa số dân cƣ sống ở nông thôn (76,8%) và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông, lâm, ngƣ nghiệp, việc nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho nông hộ ở ĐBSCL là hết sức cần thiết [2]. Nguyễn Tiến Đông (2014) cho rằng: Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 về phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, tạo ra “kênh” dẫn vốn quan trọng trong đầu tƣ cho nông nghiệp, nông thôn” [32]. Trƣơng Văn Lộc và Võ Văn Dứt (2014) nhấn mạnh: “Các nghiên cứu thực nghiệm gần đây cho thấy tín dụng có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của khu vực nông thôn, xóa đói, giảm nghèo vì tín dụng giúp cải thiện thu nhập của nông hộ…” [48]. Nguyễn Thị Nhung (2014) khẳng định: “Có thể nói các thông tƣ của ngân hàng trong việc triển khai chính sách của Chính phủ góp phần tích cực trong việc mở rộng quy mô tín dụng cho nông nghiệp nông thôn, hỗ trợ rất nhiều cho phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung và cho nông nghiệp, nông thôn của ĐBSCL nói riêng [55].
Lê Thị Tuấn Nghĩa và Phạm Mạnh Hùng (2015) đƣa ra nhận định: Phát triển nông nghiệp đòi hỏi nhu cầu vốn lớn, tuy nhiên, tỷ lệ vốn tự có của ngƣời dân Việt Nam tham gia vào sản xuất hiện nay còn ở mức thấp nên nguồn vốn tín dụng đƣợc xem là nguồn vốn chủ yếu [56]. Thực trạng trên cho thấy một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra là nông nghiệp, nông thôn nói chung, ĐBSCL và Vùng KTTĐ nói riêng vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn, vẫn thiếu vốn cho phát triển, với thực tiễn đó tôi chọn đề tài “TDNH góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp Vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long” làm luận án tiến sỹ kinh tế; đây là đề tài nghiên cứu đáp ứng nhu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn đang đặt ra.