Chương 1: Lý luận cơ bản về mở rộng hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng mở rộng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Gia Lai. Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Gia Lai. Đóng góp của đề tài Đánh giá kết quả, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất giải pháp góp phần mở rộng hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Gia Lai.
1 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm và đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Kim Anh và Nguyễn Đức Hưởng (2015, trang 522) cho rằng: “Tín dụng ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” (Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Kim Anh và Nguyễn Đức Hưởng 2015, trang 523). Trong phạm vi của luận văn này, CVKHCN tại NHTM được hiểu là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho KHCN một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích vay gồm vay tiêu dùng và vay phục vụ sản xuất kinh doanh. Đối tượng KHCN bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại Theo Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu và Lê Thị Hiệp Thương (2009), liên hệ với lĩnh vực CVKHCN tại NHTM thì có các đặc điểm như sau: 2 - Quy mô của từng món vay thông thường nhỏ nhưng số lượng các món vay nhiều.
Khách hàng cá nhân thường có hai mục đích vay: Thứ nhất là cá nhân, hộ gia đình vay để bổ sung vốn kinh doanh. Hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình được pháp luật thừa nhận nhưng do những điều kiện về năng lực, vốn, tài sản.còn hạn chế nên hoạt động kinh doanh thường không có quy mô lớn. Thứ hai là cá nhân vay đáp ứng nhu cầu vốn để tiêu dùng, khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ vào nhu cầu chi tiêu trong cuộc sống với giá trị hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ở mức không quá lớn như mua nhà đất, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, mua ô tô, du học, thấu chi. Số tiền cho vay hai mục đích này thường bị giới hạn bởi những điều kiện từ ngân hàng đó là: Phương án vay vốn có khả thi, khả năng trả nợ và tài sản bảo đảm khoản vay do đó những khoản vay này thường có quy mô nhỏ.
Tuy nhiên, số lượng các khoản vay lớn do hai nguyên nhân chính: Thứ nhất, số lượng KHCN là rất lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, đủ mọi thành phần kinh tế từ nông dân đến trí thức, từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp. Thứ hai, do nhu cầu tín dụng phong phú và đa dạng của KHCN khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống. - Chi phí tổ chức cho vay khách hàng cá nhân thường cao. Do đặc điểm của KHCN là số lượng nhiều và phân tán rộng nên để duy trì và phát triển tín dụng cá nhân sẽ tốn kém nhiều chi phí cho các công tác như: Mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, tiếp thị tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng KHCN ở từng địa bàn, khu vực; Phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ; Các chi phí liên quan như: chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện, nước, điện thoại.
Quy mô của mỗi khoản vay đối với KHCN thường nhỏ song số lượng các khoản vay lại rất lớn, tuy nhiên tổng chi phí để thực hiện một món vay đối với 3 KHCN hoặc doanh nghiệp lại ít có sự chênh lệch, vì vậy chi phí bình quân trên một đồng vốn để CVKHCN thường cao. - Cho vay khách hàng cá nhân có thể có rủi ro. Các rủi ro thường gặp như: Rủi ro do thông tin bất cân xứng, khi thẩm định cho vay thì thông tin về bản thân KHCN là một trong những yếu tố quan trọng để ngân hàng đưa đến quyết định cho vay bên cạnh tính hợp lý và hợp pháp của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản bảo đảm. Đối với khách hàng tổ chức thì việc nắm bắt thông tin khách hàng là tương đối thuận lợi do có nhiều nguồn thông tin được công khai lưu trữ như: Báo cáo tài chính, CIC, tình hình nộp thuế, uy tín quan hệ với đối tác.Ngược lại, đối với KHCN, việc đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thường khó đầy đủ và rõ ràng dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng, dẫn đến việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác.
Nguồn trả nợ chủ yếu của KHCN là từ thu nhập ổn định vào thời điểm hiện tại. Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề về sức khỏe, hoạt động kinh doanh không hiệu quả, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập thì sẽ không trả nợ vay cho ngân hàng; Rủi ro tác nghiệp, do đặc điểm quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn nên đôi khi trong quá trình thẩm định hồ sơ vay các cán bộ thường hay chủ quan, thậm chí lợi dụng sự lỏng lẻo của công tác quản lý và sơ hở của các quy định để gây ra tổn thất cho ngân hàng. - Các khoản CVKHCN có mức lãi suất thường cao tương đối vì theo nguyên lý đơn thuần nhất thì rủi ro và chi phí cao sẽ đi kèm với lãi suất cao. Phân loại cho vay và rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại Theo Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Kim Anh và Nguyễn Đức Hưởng (2015), liên hệ với lĩnh vực CVKHCN tại NHTM thì có thể phân loại như sau: - Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay gồm: Cho vay sản xuất kinh doanh, là một hình thức cấp tín dụng cho các hộ kinh doanh cá thể để tiến hành hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa; Cho vay tiêu dùng, là các khoản CVKHCN, hộ gia đình để mua sắm hàng hóa tiêu dùng như phương tiện đi lại, trang thiết bị trong 4 nhà, cho vay du học, chữa bệnh, mua nhà đất, xây dựng nhà, sửa chữa nhà, thấu chi.
- Phân loại theo thời hạn cho vay gồm: Cho vay ngắn hạn, là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng, sử dụng chủ yếu để bù đắp nhu cầu vốn lưu động tạm thời thiếu của các Hộ gia đình và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân; Cho vay trung hạn, là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng, được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ; Cho vay dài hạn, là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên, đáp ứng cho nhu cầu đầu tư dài hạn như: Xây dựng nhà xưởng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.Do thời hạn đầu tư thường kéo dài nên cho vay dài hạn thường áp dụng hình thức giải ngân nhiều lần theo tiến độ. Nhìn chung, cho vay dài hạn chịu rủi ro rất lớn, bởi vì thời hạn càng dài thì những biến động không dự tính được có thể xảy ra càng lớn. - Phân loại theo tính chất bảo đảm/mức độ tín nhiệm của người vay gồm: Cho vay có bảo đảm, là cho vay dựa trên cơ sở của các biện pháp đảm bảo được pháp luật quy định trong bộ luật dân sự, chẳng hạn như cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba. Hầu hết các khách hàng vay mới, ít quan hệ đều phải áp dụng đảm bảo mới được ngân hàng cho vay.
Quy định này nhằm hình thành nguồn trả nợ bổ sung trong trường hợp nguồn trả nợ đầu tiên không thực hiện được; Cho vay không có bảo đảm, là loại hình cho vay chỉ dựa trên uy tín của chính người vay, hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ từ dòng tiền của phương án/dự án vay, không cần phải có các biện pháp đảm bảo tiền vay đi kèm. Loại cho vay này áp dụng cho những khách hàng truyền thống, tín nhiệm cao, số tiền vay không lớn, thời hạn ngắn.