ĐỘNG CƠ KHÔNG ĐỒNG BỘ 3 PHA 1. CẤU TẠO, NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘNG CƠ DỊ BỘ Động cơ không đồng bộ là máy điện xoay chiều, có tốc độ rôto khác tốc độ stato. Từ trường quay có thể là 1 pha, 2 pha hoặc 3 pha, tuỳ thuộc vào cấu tạo dây quấn ở stato là 1 pha, 2 pha hoặc 3 pha. Theo cấu tạo dây quấn rôto , động cơ không đồng bộ được chia làm 2 loại: Rôto lồng sóc và rôto dây quấn động cơ không đồng bộ lồng sóc có cấu tạo đơn giản, vận hành và bảo quản dễ dàng , độ tin cậy cao , giá thành rẻ , nên được ứng dụng rộng rãi trong thực tế.
Động cơ không đồng bộ rôto dây quấn có cấu tạo phức tạp vận hành và bảo quản khó hơn, độ tin cây kém hơn, giá thành cao hơn nhưng nó có ưu điểm là có thể đưa điện trở phụ ở ngoài vào để cải thiện tính năng mở máy và điều chỉnh. Tốc độ do đó nó không được sử dụng cho những nơi nào có cầu dao về mở máy về điều chỉnh tốc độ mà động cơ lồng sóc không đáp ứng được. Tuy nhiên động cơ không đồng bộ có nhược điểm là điều chỉnh tốc độ và khống chế các quá trình quá độ khó khăn riêng với động cơ rôto lồng sóc , các chỉ tiêu không đồng bộ. Cấu tạo của động cơ dị bộ 1.
Phần tĩnh (stato) Stato bao gồm vỏ máy, lõi sắt và dây quấn. Vỏ máy Vỏ máy là nơi cố định lõi sắt, dây quấn và đồng thời là nơi ghép nối nắp hay gối đỡ trục. Để chế tạo vỏ máy người ta có thể đúc, hàn, rèn và nguyên liệu để làm vỏ máy có thể làm bằng gang, nhôm hay lõi thép. Vỏ máy có hai kiểu: vỏ kiểu kín và vỏ kiểu bảo vệ.
Hộp cực là nơi để đấu điện từ lưới vào. Đối với động cơ kiểu kín hộp cực yêu cầu phải kín, giữa thân hộp cực và vỏ máy với nắp hộp cực phải có giăng cao su. Trên vỏ máy còn có bulon vòng để cẩu máy khi nâng hạ, vận chuyển và bulon tiếp mát. Lõi sắt Lõi sắt là phần dẫn từ.
Vì từ trường đi qua lõi thép là từ trường quay, nên để giảm tổn hao lõi sắt được làm từ những lá thép kỹ thuật điện dày 0,5mm ép lại. Yêu cầu của lõi sắt là phải dẫn từ tốt, tổn hao nhỏ và chắc chắn. Mỗi lá thép kỹ thuật điện đều phủ sơn cách điện trên bề mặt để giảm tổn hao do dòng điện xoáy gây nên. Dây quấn Dây quấn stato được đặt vào rãnh của lõi sắt và được cách điện tốt với lõi sắt.
Dây quấn đóng vai trò quan trọng của máy điện vì nó trực tiếp tham gia vào quá trình biến đổi năng lượng điện năng thành cơ năng hay ngược lại, đồng thời về mặt kinh tế thì giá thành của dây quấn cũng chiếm một phần khá cao trong toàn bộ giá thành máy. Lõi sắt Lõi sắt của rôto bao gồm các lá thép kỹ thuật điện như stato, điểm khác biệt ở đây là không cần sơn cách điện giữa các lá thép vì tần số làm việc trong rôto rất thấp chỉ vài Hz, nên tổn hao do dòng phuco trong rôto rất thấp. Lõi sắt được ép trực tiếp lên trục máy hoặc lên một giá rôto của máy. Phía ngoài của lõi sắt có xẻ rãnh để đặt dây quấn rôto.
Dây quấn rôto Phân làm hai loại chính: rôto kiểu dây quấn và kiểu lồng sóc. Loại rôto dây quấn: Rôto có dây quấn giống như dây quấn stato. Máy điện kiểu trung bình trở lên dùng dây quấn kiểu sóng hai lớp, vì bớt những dây đầu nối nên kết cấu dây quấn trên rôto chặt chẽ. Máy điện cỡ nhỏ dùng dây quấn đồng tâm một lớp.
Dây quấn ba pha của rôto thường đấu hình sao. Đặc điểm của loại động cơ kiểu dây quấn là có thể thông qua chổi than đưa điện trở phụ hay suất điện động phụ vào mạch rôto để cải thiện tính năng mở máy, điều chỉnh tốc độ hay cải thiện hệ số công suất của máy. Loại rôto kiểu lồng sóc: kết cấu của loại dây quấn rất khác với dây quấn stato. Trong mỗi rãnh của lõi sắt rôto đặt các thanh dẫn bằng đồng hay nhôm dài trong lõi sắt và được nối tắt lại hai đầu bằng hai vòng ngắn mạch bằng đồng hay nhôm.
Nếu là rôto đúc nhôm thì trên vành ngắn mạch còn có các cánh quay gió. Rôto thanh đồng được chế tạo từ đồng hợp kim có điện trở suất cao nhằm mục đích nâng cao mômen mở máy. Để cải thiện tính năng mở máy, đối với máy có công suất lớn, người ta làm rãnh rôto sâu hoặc lồng sóc kép. Đối với máy điện cỡ nhỏ, rãnh rôto được làm chéo góc với tâm trục.
Dây quấn lồng sóc không cần cách điện với lõi sắt. Trục Trục máy điện mang rôto quay trong lòng stato. Trục máy điện được chế tạo tùy theo kích thước và nguyên liệu chủ yếu là thép cacbon. Trên trục của rôto có lõi thép, dây quấn, vành trượt và quạt gió.
Khe hở Vì rôto là một khối tròn nên khe hở đều. Khe hở trong máy điện không đồng bộ rất nhỏ ( 0,2 – 1mm ) để hạn chế dòng từ hóa lấy từ lưới điện vào, nhờ đó hệ số công suất của máy cao hơn. Nguyên lý làm việc của động cơ dị bộ Sau khi nối thông cuộn dây stato với nguồn điện 3 pha , thì sẽ sản sinh ra từ trường quay. Nếu từ trường quay theo chiều kim đồng hồ thì theo quy tắc bàn tay phải dây dẫn của rôto ở phía cực N cắt từ trường , dòng điện cảm ứng đi theo chiều xuyên từ mặt giấy ra.
Dây dẫn này chịu tác dụng của lực đó sẽ làm cho roto quay theo chiều kim đồng hồ. Tương tự như vậy ở phía cực S , roto chịu tác dụng của lực cũng quay theo chiều kim đồng hồ. Các lực điện từ đó tạo thành một mômen điện từ đối với trục quay, do đó làm cho rôt quay theo chiều quay cảu từ trường quay. Tốc độ quay của N2 của roto luôn luôn nhỏ hơn tốc độ quay của n1 của từ trường quay ( tốc độ quay đồng bộ ).
Nếu tốc độ quay của roto đạt đến tốc độ quay đồng bộ thì không còn có sự chuyển động tương đối giữa nó và từ trường nữa. Dây điện của rôto sẽ không cắt đường sức do đó sức điện động cảm ứng , dòng điện và momen điện từ của nó đều bằng 0. Do đó ta thấy rôto luôn quay theo từ trường quay với tốc độ n2 < n1. Nguyên lý làm việc của động cơ không đồng bộ.
Ta gọi động cơ không đồng bộ vì tốc độ quay n 2 của roto không bằng tốc độ quay đồng bộ của trường quay của rôto. Trong đó: n1 - n2 : Là hiệu số tốc độ quay của động cơ KĐB. Tỷ số giữa hiệu số tốc độ quay với tốc độ quay đồng bộ gọi là độ trượt. Ký hiệu là S : n1 n2 S n1 Khi động cơ KĐB 3 pha ở trạng thái phụ tải định mức thì độ trượt của nó rất bé ( 0,02 0,06).
Sau khi nối thông cuộn dây stato của động cơ KĐB với nguồn điện xoay chiều 3 pha , qua tác dụng của từ trường quay sẽ truyền điện năng cho rôto. Hiện tượng này giống như từ trường biến đổi xoay chiều ở trong lõi sắt của MBA truyền điện năng từ cuộn sơ cấp cho sơ cấp cho cuộn thứ cấp. Do đó khi dòng điện trong rôto tăng lên thì dòng điện trong stato cũng tăng lên. Momen điện từ (M) của động cơ KĐB tỷ lệ thuận với tích của từ thông quay ( ) và thành phần tác dụng của dòng điện rôto (I2 cos 2 ) M = CM.
I2 cos 2 CM: Là hằng số momen của động cơ KĐB Đối với một động cơ đã chế tạo hoàn chỉnh thì nó là một trị số xác định không đổi, thì trị số ở công thức trên về cơ bản không thay đổi nên momen điện tử của động cơ KĐB tuỳ thuộc vào dòng điện I2 của rôto và hệ số công suất cos 2 của mạch điện rôto. - Khi n1 - n2 giảm thì I2 giảm. Khi bắt đầu khởi động động cơ , rôto chưa quay , do đó hiệu số tốc độ quay n1 - n2 = n1 , lúc này dây dẫn của rôto cắt từ trường quay với tốc độ lớn nhất. Khi rôto bắt đầu quay thì tốc độ tương đối của dây dẫn rôto cắt từ trường quay giảm xuống, n1 - n2 giảm xuống do đó I2 giảm.
- Khi n1 - n2 giảm thì cos 2 tăng lên. Mạch điện rôto tương đương với một cuộn dây quấn trên lõi sắt nó cũng có cảm kháng, độ lớn của cảm kháng tỷ lệ thuận với tần số của dòng điện trong rôto. Cảm kháng càng nhỏ thì cos càng lớn. Tần số của dòng điện trong rôto giảm khi n1 - n2 giảm -> cos tăng.
Ta thấy quan hệ giữa momen điện từ và độ trượt khá phức tạp , đó là một đường cong quan trọng biểu thị đặc tính vận hành của động cơ KĐB cho ta thấy độ trượt khi momen điện từ thay đổi. - Mmax : Momen cực đại - Mxđ : Momen khởi động - Mđm : Momen định mức - Sth : Độ trượt tới hạn. M Mmax Mkdd Mđm S Sth S=1 Hình 1. Đường cong momen của động cơ KĐB Sau khi đấu động cơ với nguồn điện ở thời điểm bắt đầu khởi động S = 1 , lúc này I2 lớn nhất, cos nhỏ nhất gọi là momen khởi động.
Nếu Mkđ lớn hơn momen cản ở trên trục của động cơ thì roto sẽ quay và tăng dần tốc độ , momen điện từ của động cơ cũng tăng dần theo đoạn đường cong BA lên tới điểm A, sau khi đạt đến momen cực đại Mmaxlại giảm dần theo đoạn đường cong AO. Khi M = Mcản thì động cơ sẽ quay theo một tốc độ không đổi và vận hành ổn định theo đoạn đường cong OA. Khi động cơ làm việc ổn định ở OA , nếu tăng momen cản ( tăng phụ tải) thì tốc độ quay của động cơ giảm xuống ( S tăng lên ) làm cho momen điện từ tăng lên. Do đó tạo nên sự cân bằng mới với momen cản, nếu phụ tải tăng lên đến mức làm cho momen cản vượt quá momen cực đại.
Nếu phụ tải tăng lên đến mức làm cho momen cản vượt qua momen cực đại , thì tốc độ quay của động cơ sẽ giảm xuống nhanh chóng cho đến khi dừng lại. Do đó phạm vi làm việc ổn định của động cơ chỉ hạn chế ở trong đoạn đường cong OA.