Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE THỦ TỤC CONG NHAN VA CHO THI HANH TAI VIET NAM QUYET ĐỊNH CUA TRONG TÀI NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm phán quyết của Trọng tài nước ngoài Trọng tài thương mại là cơ quan tài phán tư để giải quyết tranh chấp mà các phán quyết Trọng tài có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp. Thủ tục thi hành phán quyết của Trọng tài trong nước thì tương đối đơn giản. Tuy nhiên, thi hành phán quyết của Trọng tài “có yếu tố nước ngoài” hay “quốc tế” (phán quyết của Trọng tài nước ngoài) thì phức tạp hơn vì phải qua thủ tục công nhận và cho thi hành tại Tòa án nơi thi hành phán quyết của Trọng tài.
Khái niệm phán quyết của Trọng tài nước ngoài được đề cập tại Công ước New York về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài với 156 quốc gia thành viên đã được Việt Nam phê chuẩn ngày 12-09-1995 và có hiệu lực ngày 11-12-1995 theo quyết định số 453/QD-CTN ngày 28-07-1995 của Chu tịch nước. Theo quy định tại Điều I của Công ước New York thì “Công ước này áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các phán quyết của Trọng tài được ban hành tại lãnh thé của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cau công nhận và thi hành quyết định Trọng tài đó, xuất phát từ các tranh chấp giữa các thể nhân hay pháp nhân. Công ước còn được áp dụng cho những phán quyết của Trọng tài không được coi là phán quyết trong nước tại Quốc gia noi việc công nhận và thi hành chúng được yêu câu”. Như vậy, theo quy định của Công ước New York, một phán quyết Trọng tài sẽ được xem là phán quyết của Trọng tài nước ngoài nếu thuộc một trong hai trường (ï) phán quyết của Trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành quyết định Trọng tài đó; (ii) phán quyết của Trọng tài không được coi là phán quyết trong nước tại Quôc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu câu.1 Công ước New York.
10 Yếu tô chính dé xác định “quốc tịch” của phán quyết của Trọng tài là địa điểm nơi phán quyết của Trọng tài được ban hành. Ngoài ra, phụ thuộc vào pháp luật của từng quốc gia, một phán quyết của Trọng tài được tuyên tại chính nước đó nhưng vẫn có thể bị coi là phán quyết của Trọng tài nước ngoài." Mặt khác, phán quyết của Trọng tài được tuyên tại nước không phải nơi Trọng tài đó được thành lập vẫn có thể được xác định là phán quyết của Trọng tài trong nước nêu pháp luật của quốc gia đó cho phép như vậy”. Ví dụ: ở một số quốc gia như Úc, Brazil, Cameroon, Anh, Đức, Luxembourg, Hà Lan và Tây Ban Nha thì tiêu chí duy nhất để xem xét phán quyết có phải là phán quyết nước ngoài được điều chỉnh bởi Công ước New York hay không là phán quyết đó được ban hành tại quốc gia khác với quốc gia nơi được yêu cầu công nhận và cho thi hành. Tại An Độ, Tòa Tối Cao của An Độ ban đầu cho rang phán quyết được tuyên ở ngoài lãnh thé An Độ theo luật tổ tụng của An Độ là phán quyết trong nước và không phải là phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo Công ước New York.
Tuy nhiên gần đây, Tòa án Tối cao An Độ đã thay đổi quan điểm và ghi nhận rang Tòa án An Độ sẽ chỉ có thẩm quyền xem xét phán quyết được tuyên ở lãnh thổ nước khác khi phán quyết đó được yêu cầu thi hành tại An Độ.Š Tại Trung Quốc, Tòa án cho rằng phán quyết được điều chỉnh bởi Công ước New York nếu được ban hành bởi hội đồng Trọng tài của một trung tâm Trọng tài nước ngoài. Ví dụ, trong một vụ việc, Tòa án Trung Quốc đã quyết định rang phán quyết được tuyên tại Paris thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước New York vì phán quyết này được ban hành bởi một hội đồng Trọng tài thuộc Phòng Thương Mại Quốc tế (ICC). Trong một vụ việc khác, Tòa án ° Hướng dan của UNCITRAL, Điều I, xem tại: http://newyorkconvention1958.php?lvl=cmspage&pageid=10&menu=617&opac_ view=-l TTS Đỗ Văn Đại, Lam thé nao để Tirong tài Việt Nam là chỗ dựa cho doanh nghiệp, Tạp chi Nghiên cứu lập pháp, sô 117, năm 2008, sdd, trang 36. * Hướng dẫn của UNCITRAL, Điều I, xem tai: http://newyorkconvention1958.php?lvl=cmspage&pageid=10&menu=617&opac_ view=-l 11 Trung Quốc cũng quyết định rang phán quyết được tuyên tại Mông Cổ sẽ phải trải qua thủ tục công nhận và cho thi hành theo Công ước New York vì nó được ban hành bởi một tổ chức Trọng tài Mông Cô.
Hon nữa, Tòa án Trung Quốc còn nhận định răng các phán quyết của Trọng tài vụ việc có thê được thi hành theo Công ước New York nếu địa điểm Trọng tài ở ngoài lãnh thé Trung Quốc.” Công ước New York không có định nghĩa thế nào là “phán quyết của Trọng tài”, tuy nhiên theo Bản Hướng dẫn của Ban thư ký UNCITRAL về Công ước New York (Bản hướng dẫn của UNCITRAL) thì chỉ những quyết định được ban hành bởi Trọng tài viên nhằm giải quyết toàn bộ hay một vài van đề của vụ tranh chấp một cách chung thấm và có hiệu lực ràng buộc, bao gồm ca van dé về thâm quyền mới được xem là “phán quyết của Trọng tài”. '" Hội đồng Trọng tài có thé ban hành quyết định từng phan dé giải quyết chung thâm một hoặc nhiều phần riêng biệt của vụ tranh chấp. Nói cách khác, phán quyết từng phần được xem là phán quyết cuối cùng đối với van đề được xem xét trong phán quyết.' Như đã được nhận định rõ trong với Bản hướng dẫn của UNCITRAL, “phán quyết của Trọng tài là chung tham không phải bởi vì nó cham dứt tố tụng Trọng tài hay chức năng nhiệm vụ của Hội đồng Trọng tài mà bởi vì nó là quyết định cuối cùng dé giải quyết tranh chấp được đưa ra Trọng tài”. Ngược lại, những quyết định sau đây thường không được coi là phán quyết: - Các mệnh lệnh về thủ tục, nghĩa là các quyết định chỉ nhằm tô chức qua trình tố tung; *Hướng dẫn của UNCITRAL, Điều L xem tại: http://newyorkconvention1958.php?lvl=cmspage&pageid=10&menu=617&opac_ view=-1 "Huong dẫn của Ban thư ký UNCITRAL, xem thêm tại: http://newyorkconvention1958.php?lvl=cmspage&pageid=10&menu=617&opac_ view=-1 ' Hội thao của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển, trang 7, tham khảo tại: http://unctad.org/en/Docs/edmmisc232add41_en.pdf '* Drummond Ltd.
Instituto Nacional de Concesiones — INCO et al., Supreme Court of Justice, Colombia, 19 December 2011 and 3 May 2012, XXXVII Y. 12 - Quyết định về biện pháp tạm thời hoặc biện pháp khan cấp tạm thời. Vì những quyết định này chỉ được ban hành trong giai đoạn tố tụng Trọng tài và có thể được xem xét lại trong quá trình đó, các biện pháp tạm thời không phải là phán quyết. Như vậy, để xác định liệu một quyết định Trọng tài có được coi là phan quyết của Trọng tài hay không, Tòa án phải xem xét liệu quyết định đó có giải quyết “chung thâm” vấn đề và “có hiệu lực ràng buộc” các bên hay không chứ không nên chỉ dựa trên tên gọi mà hội đồng Trọng tài đặt cho quyết định của họ.
Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015 định nghĩa về phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại khoản 2 Điều 424 như sau: “Phan quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản I Diéu này được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cudi cùng của Hội đồng Trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt to tụng Trọng tài và có hiệu lực thi hành”. Quy định này tương thích với khái niệm “phán quyết của Trọng tài” tại khoản 10 Điều 3 của LTTTM.' Tuy nhiên, so với Công ước New York thì BLTTDS năm 2015 đặt thêm hai tiêu chí để một quyết định Trọng tài được xem là phán quyết của Trọng tài, đó là: - Thứ nhất, phán quyết đó phải giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp; và: - Thứ hai, cham đứt tố tụng Trọng tài; theo đó, phán quyết từng phan và phán quyết sơ bộ có thé không được công nhận và cho thi hành ở Việt Nam trừ khi được Hội đồng Trọng tài ghi nhận trong phán quyết cuối cùng. Khoản 3 Điều 424 của BLTTDS năm 2015 dẫn chiếu đến quy định của LTTTM về định nghĩa Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài. Khoản 11 Điều 3 của LTTTM quy định: “Trong tài nước ngoài là Trọng tài được thành lập theo quy định cua pháp luật Trọng tài do các bên thỏa '3 Điều 3.10- LTTTM: Phan quyết của Trọng tài là quyết định của Hội đồng Trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tô tụng Trọng tài.
13 thuận lựa chọn dé tiễn hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thé Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam”. Khoản 12 Điều 3 của LTTTM quy định: “Phán quyết của Trọng tài nước ngoài là phan quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thé Việt Nam dé giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn `. Như vậy, định nghĩa về phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo pháp luật Việt Nam không căn cứ vào địa điểm nơi phán quyết được ban hành mà dựa vào việc xác định Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp có phải là Trọng tài nước ngoài hay không. Nói cách khác, định nghĩa này rơi vào trường hợp thứ hai của Công Ước New York, theo đó phán quyết của Trọng tài nước ngoài là “nhán quyết không được coi là phán quyết của Trọng tài trong nước”.
Tức là, cho dù phán quyết của Trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thô Việt Nam cũng không được xem là phán quyết trong nước mà phải được xem là phán quyết của Trọng tài nước ngoài và phải thông qua thủ tục công nhận và cho thi hành theo BLTTDS đề có thé thi hành tại Việt Nam. Khái niệm thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài Theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt thì “công nhận” là việc thừa nhận trước mọi người là hợp với sự thật, với lẽ phải hoặc hợp với thé lệ luật pháp và “thi hành” là làm cho thành có hiệu lực điều đã được chính thức quyết định. Theo định nghĩa trong Từ điển Luật học° thì công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài là thừa nhận giá trị pháp lý và áp dụng các biện pháp đề thực hiện phán quyết của Trọng tài nước ngoài. Bản chất của công nhận là một quy trình bảo vệ.
Nó được đưa ra với mục đích ngăn ngừa một bên tranh chấp tiếp tục khởi kiện vụ việc đã được giải quyết.