Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Khám bệnh Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận (3). Điều trị ngoại trú Điều trị ngoại trú là việc thực hiện công tác khám bệnh cho người bệnh không cần phải điều trị nội trú hoặc người bệnh sau khi đã điều trị nội trú ổn định nhưng cần phải theo dõi và điều trị tiếp tục sau khi đã rời khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (4).
Thời gian khám bệnh Thời gian khám bệnh ở đây được hiểu là thời gian người bệnh thực hiện toàn bộ quy trình khám bệnh, tính từ khi lấy số thứ tự đến khi hoàn tất quá trình khám và ra về (3, 5). Thời gian chờ khám Thời gian chờ khám được định nghĩa là tổng thời gian người bệnh phải chờ đợi trong suốt quy trình khám của người bệnh, trừ thời gian người bệnh được thực hiện các dịch vụ trong mỗi giai đoạn của quy trình khám bệnh tại BV (6). Bảo hiểm y tế Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT (7). Dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện Trong thực tế, chất lượng dịch vụ là thước đo để người sử dụng dịch vụ sử dụng để so sánh giữa cơ sở y tế này với cơ sở y tế khác và cũng và công cụ để tạo dựng những lợi thế cạnh tranh.
Người sử dụng dịch vụ y tế nếu phải chịu chi phí cao thì họ cũng sẽ có những đòi hỏi, yêu cầu nhiều hơn về chất lượng dịch vụ mà các cơ sở y tế cung cấp. Chính vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng dịch vụ là mục tiêu hàng đầu được các nhà lãnh đạo quan tâm, tuy nhiên làm như thế nào để có thể đạt được mục 5 tiêu này thì là cả một vấn đề lớn, đòi hỏi sự nổ lực không ngừng nghỉ của của lãnh đạo cũng đội ngũ nhân viên y. Để một cơ sở y tế được đông đảo người dân tin tưởng và biết đến là cả một hành trình dài phấn đấu, kiên trì và cũng phải đầu tư nhiều về các nguồn lực hiện có. Chất lượng là đầu ra của các nguồn lực và hoạt động khác nhau nhằm cung cấp các dịch vụ đáp ứng các nhu cầu sử dụng ngày càng cao của con người.
Điều này có nghĩa là cần xem xét chất lượng chuyên môn. Chất lượng được tạo ra nhờ sự nổ lực của con người kết hợp với công nghệ và nhiều yếu tố đầu vào khác nữa. Có thể nâng cấp chất lượng kỹ thuật của sản phẩm hoặc dịch vụ bằng việc áp dụng các công nghệ hiện đại, trong khi đó nâng cao chất lượng chuyên môn lại cần tới sự tiến bộ về hành vi và thái độ của nhân viên, ví dụ quan hệ giữa người với người, ngoại hình nhân viên, các cam kết với người bệnh. Thực trạng quá tải bệnh viện Tình trạng quá tải đang xảy ra ngày càng phổ biến hiện nay, đặc biệt là ở những BV tuyến tỉnh và Trung ương, nguyên nhân dẫn đến quá tải vì người dân không tin tưởng vào chất lượng dịch vụ do các BV tuyến xã/phường, quận/huyện cung cấp.
Người dân tình nguyện chen chúc nhau, hao tốn thời gian cho việc chờ đợi tại các BV tuyến trên, nguyên nhân là do sự phân bố không đồng đều về nguồn lực, các BV tuyến quận trở xuống không đảm bảo chất lượng của các dịch vụ khi cung cấp cho người dân, khiến người dân mất lòng tin và muốn tìm đến những cơ sở y tế uy tín để mong được cung cấp những dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt và đảm bảo. Để có thể giải quyết được tình trạng trên, đòi hỏi phải có thời gian và lộ trình. BYT đã phê duyệt và ban hành đề án giảm quá tải BV giai đoạn 2013-2020 nhằm mục tiêu giảm quá tải ở khu nội trú, phấn đấu để người bệnh không phải nằm ghép và giảm tải cho những BV chuyên khoa Ung bướu, Chấn thương chỉnh hình, Sản và Nhi trên địa bàn các thành phố như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (TP. Thực trạng nguồn nhân lực Nhân lực là yếu tố có vai trò quyết định trong việc đánh giá dịch vụ của một cơ sở y tế, là thành phần không thể thiếu trong hệ thống y tế cùng với tài chính y tế, thông tin y tế, dịch vụ y tế, thuốc và TTBYT.
6 Hiện nay, tình hình nhân lực đang được tăng lên đáng kể, tuy nhiên trên thực tế nguồn nhân lực vẫn chưa đảm bảo về cả số lượng và chất lượng. Nhân lực phân bổ không đều giữa các vùng miền và các tuyến y tế đặc biệt là y tế cơ sở, vì thế dẫn đến việc nguồn nhân lực không tương xứng với vai trò trong tình hình mới hiện nay (5, 8, 9). Thực trạng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị Hiện nay, nhiều cơ sở y tế xuống cấp, cũ nát không được đầu tư, không đáp ứng quy mô là vô cùng phổ biến tại các tỉnh thành trong cả nước. Nhiều cơ sở y tế không đảm bảo diện tích thực hiện các kỹ thuật như xét nghiệm (XN), chẩn đoán hình ảnh (CĐHA), thăm dò chức năng (TDCN) làm hạn chế cơ hội phát triển và không đảm bảo cung cấp dịch vụ cho một cách toàn diện cho người bệnh, bên cạnh đó sẽ là sự lạc hậu về máy móc, trang thiết bị dùng cho y tế, máy móc cũ, không có độ an toàn hoặc không được bảo dưỡng đúng quy định… Ngược lại với tình trạng trên, hiện nay nhiều cơ sở y tế đã và đang tận dụng tối đa nguồn lực để đầu tư hệ thống máy móc, trang thiết bị hiện đại.
Kêu gọi nhà đầu tư để mở rộng phạm vi hoạt động và từng bước hiện đại hóa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dần đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân, chất lượng dịch vụ cũng ngày càng nâng cao và đáp ứng được sự kỳ vọng của người sử dụng dịch vụ khi đến với cơ sở y tế (10). Quy trình khám bệnh tại bệnh viện Nhằm cải tiến quy trình khám bệnh, hướng đến sự hài lòng của người bệnh khi đến các cơ sở khám chữa bệnh, ngày 22/04/2013 Bộ Y tế ban hành quyết định 1313/QĐ-BYT về việc hướng dẫn quy trình khám bệnh. Quyết định đã quy định rõ ràng trách nhiệm của người bệnh và của bệnh viện trong từng bước của quy trình. Cũng trong quyết định này, Bộ Y tế cũng đưa ra chỉ tiêu về thời gian khám bệnh cho các cơ sở y tế: Đối với người bệnh chỉ khám lâm sàng đơn thuần thời gian khám trung bình dưới 2 giờ; với người bệnh khám lâm sàng có thêm 1 kỹ thuật XN/CĐHA/TDCN (XN cơ bản, chụp X-Quang thường quy, siêu âm) thời gian khám trung bình dưới 3 giờ; 7 Người bệnh thực hiện khám lâm sàng có thêm 2 kỹ thuật phối hợp XN/CĐHA/TDCN (XN cơ bản, chụp X-Quang thường quy, siêu âm) thời gian khám trung bình dưới 3,5 giờ; còn đối với người bệnh khám lâm sàng có thêm 3 kỹ thuật phối hợp XN/CĐHA/TDCN (XN cơ bản, chụp X-Quang thường quy, siêu âm) thời gian trung bình dưới 4 giờ (1).
Quy trình khám bệnh tại khoa khám bệnh của bệnh viện theo hướng dẫn của Bộ y tế Theo Quyết định 1313/QĐ-BYT ngày 24 tháng 4 năm 2013, quy trình khám bệnh, chữa bệnh tại khoa Khám bệnh vủa bệnh viện gồm 4 bước: Bước 1: tiếp đón người bệnh Tại khâu tiếp đón, đối với người bệnh khám BHYT, có trách nhiệm cung cấp giấy tờ tùy thân có ảnh, thẻ BHYT, hồ sơ chuyển viện hoặc giấy hẹn tái khám cho nhân viên y tế để nhập thông tin và xác định phòng khám người bệnh cần đến, sau đó người bệnh nhận được phiếu thứ tự vào phòng khám do nhân viên đăng ký cung cấp, đối với những trường hợp vượt tuyến, trái tuyến, người bệnh không được hưởng quyền lợi BHYT khi khám bệnh ngoại trú (1). Bước 2: Khám lâm sàng và chẩn đoán Sẽ có 2 khả năng xảy ra đó là: trong khi khám bác sĩ phát hiện người bệnh có những dấu hiệu nghi ngờ cần được thực hiện các chỉ định XN, CĐHA, TDCN để hỗ trợ công tác chẩn đoán hoặc bác sĩ sẽ xác định bệnh và kê toa thuốc mà không cần cho chỉ định thực hiện các kỹ thuật CLS. Khám lâm sàng, chẩn đoán và chỉ định điều trị Người bệnh ngồi chờ vào phòng khám theo số thứ tự được thể hiện trên phiếu vào phòng khám, khi đến lượt người bệnh vào phòng khám sẽ có nhân viên y tế hoặc hệ thống gọi tên thông báo. Bác sĩ thực hiện khám bệnh sau đó trực tiếp kê toa thuốc cho người bệnh đi lãnh thuốc, phiếu thanh toán chi phí khám bệnh theo mẫu 01/BVsẽ được in cho người bệnh ký trước khi thực hiện thanh toán (1).1: Quy trình khám lâm sàng và kê đơn điều trị (1) b.
Khám lâm sàng, xét nghiệm, chẩn đoán và chỉ định điều trị Ở trường hợp này, sau khi thăm khám, bác sĩ cho chỉ định đi làm XN, người bệnh cầm theo chỉ định đi tới khu vực XN và chờ vào phòng theo thứ tự, sau khi có kết quả XN quay trở lại phòng khám để bác sĩ khám lại, kê toa thuốc cho người bệnh đi lãnh thuốc, phiếu thanh toán chi phí khám bệnh theo mẫu 01/BVsẽ được in cho người bệnh ký trước khi thực hiện thanh toán (1).2: Quy trình khám lâm sàng có xét nghiệm (1) c. Khám lâm sàng, thực hiện kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, chẩn đoán bệnh và chỉ định điều trị Trong trường hợp này, so với khám lâm sàng xét nghiệm chỉ định điều trị, người bệnh sẽ phải thực hiện thêm kỹ thuật CLS của CĐHA. Người bệnh sẽ phải thực hiện hết chỉ định XN hoặc CĐHA rồi tiếp tục di chuyển tới phòng còn lại để thực hiện chỉ định tiếp theo. Sau khi có kết quả của cả 2 phòng, người bệnh quay trở lại phòng khám để bác sĩ khám lại, kết luận và kê toa thuốc cho người bệnh đi lãnh thuốc, phiếu thanh toán chi phí khám bệnh theo mẫu 01/BVsẽ được in cho người bệnh ký trước khi thực hiện thanh toán (1).3: Quy trình khám lâm sàng có xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh (1) d.