Đặt vấn đề Nấm linh chi là một dược liệu cực quý, xếp trên cả nhân sâm. Trong truyền thuyết, nấm linh chi ngàn năm có khả năng cải tử hoàn sinh, những nghiên cứu gần đây cho thấy nấm linh chi cải thiện chức năng gan, có tác dụng tốt lên hệ tim mạch, giúp ăn ngon, ngủ ngon, chống khối u, vv… Loại có giá rẻ nhất là có nguồn giống nội địa, giá bán 150. Hai loại còn lại có nguồn gốc từ giống của Nhật Bản, giá từ 300. Năm 2008, lượng tiêu thụ nấm linh chi ở Việt Nam hàng năm là 70 tấn.
Trong đó, lượng nấm linh chi nhập về từ Trung Quốc khoảng 36 tấn, từ Hàn Quốc khoảng 7 tấn, số còn lại do trong nước sản xuất. Dự báo đến năm 2010, lượng nấm linh chi tiêu thụ tại Việt Nam lên 100 tấn/năm. Một trong những người trồng nấm linh chi có bề dày kinh nghiệm trên địa bàn Hà Nội là anh Nguyễn Văn Lợi, xóm 5, xã Đông La, huyện Hoài Đức. Cách đây 20 năm, được sự giúp đỡ của GS.
Nguyễn Lân Dũng - Chủ tịch Hội các ngành sinh học Việt Nam, vợ chồng anh Lợi đã bắt tay vào xây dựng mô hình trồng nấm với nhiều loại như linh chi, nấm rơm, nấm sò, nấm mỡ, nấm đầu khỉ, vv… Mỗi năm, trồng nấm mang lại cho gia đình anh doanh thu trên 500 triệu đồng. Anh Lợi cho biết, bình quân mỗi năm, gia đình anh trồng 10.000 bịch nấm linh chi, thu được khoảng 300 - 400kg nấm khô. Tuy nhiên, trồng nấm linh chi có thuận lợi là thị trường tiêu thụ sản phẩm rất rộng lớn do nhu cầu tiêu dùng cao. "Dù bán với giá 1 triệu đồng/kg nhưng nhà tôi trồng được bao nhiêu nấm linh chi là có người đến đặt mua hết” - anh Lợi chia sẻ.
Với hiệu quả rõ rệt của cây nấm mang lại. Mới đây, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt đề án khung phát triển sản phẩm quốc gia "Sản phẩm nấm ăn và nấm dược liệu". Theo đó, mục tiêu đến năm 2020 cả nước sản xuất được 150.000 tấn nấm các loại, chiếm 19 khoảng 20% tổng sản lượng nấm trong nước, xuất khẩu đạt tối thiểu 100 - 120 triệu USD/năm. Trong đó, nấm linh chi được xác định là một trong 6 loại nấm chủ lực.
Đặc thù về nấm linh chi: Nguyên nhân chính khiến giá nấm linh chi đỏ đắt so với các hàng nông sản thông thường khác, là do quy trình sản xuất hoàn toàn thủ công. Trong khi các nghề nông khác ít nhiều đều được máy móc hỗ trợ, trồng nấm linh chi phải làm tỉ mỉ bằng tay rất nhiều công đoạn, từ khâu đóng bịch (dồn mạt cưa vào bịch sau đó đập xuống nền cho mạt cưa được nén chặt xuống), hấp bịch, thay nắp, cấy giống, bịt giấy, xếp bịch, chăm sóc, thu hoạch, cắt gốc, vv… So với các loại nấm khác, nấm linh chi khó trồng nhất, vì nó yêu cầu rất khắt khe trong vấn đề vệ sinh, các yếu tố cần là: Nơi trồng phải sạch sẽ, dụng cụ cấy nấm phải được đốt khử trùng kỹ bằng cồn, bịch phôi phải được hấp chín từ 8 - 12 tiếng. Các loại nấm khác như bào ngư trắng, bào ngư xám, nấm mèo (mộc nhĩ), nấm rơm, vv…dễ trồng hơn, bằng chứng là sau khi thu hoạch nấm linh chi xong (3 - 4 đợt thu hoạch), bịch phôi thải ra tại trại nấm sẽ được các cơ sở trồng (loại) nấm khác thu gom về tái sử dụng. Bịch mạt cưa chỉ chặt khi được đóng bằng tay vì như vậy nấm mới phát triển tốt.
Hoặc phơi nấm sau thu hoạch cũng phải phơi thủ công dưới nắng, với mục đích để cho màu nấm linh chi đẹp tự nhiên, vì sấy nấm linh chi bằng loại máy sấy nào cũng sẽ khiến nó bị xỉn màu, giảm chất lượng, mùi thơm. Cho đến nay chưa có bất kỳ một loại máy móc nào có thể hỗ trợ nghề trồng nấm. Chính vì vậy, để nâng cao năng suất cũng như đạt được chất lượng cao trong ngành nông nghiệp sản xuất nấm, việc đưa thiết bị máy móc để hỗ trợ cho việc nuôi trồng nấm là một việc thiết thực và có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển ngành trồng nấm tại Việt Nam. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1.
Ý Nghĩa khoa học 20 Đề xuất được nguyên lý hoạt động của hệ thống thiết bị định lượng và vô bịch nấm. Mô hình kết cấu và chế độ làm việc của bộ phận định lượng và vô bịch trong hệ thống máy khi vận hành trong thực tế. Ý nghĩa thực tiễn Một phương tiện chuyên dụng đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng hệ thống thiết bị nuôi trồng nấm. Phương tiện giúp giảm chi phí về nhân công, tăng năng suất và đạt chất lượng ổn định trong quá trình sản suất.
Hệ thống thiết bị nuôi trồng nấm chuyên dụng, có kết cấu đơn giản, dễ chế tạo để có thể chế tạo được tại các cơ sở cơ khí trên toàn quốc. Hệ thống máy dễ sử dụng, phù hợp với khả năng của người nông dân Việt Nam. Một biện pháp không gây ô nhiễm môi trường, không gây hại đến sức khoẻ và an toàn với người sử dụng. Do vậy, đề tài “Nghiên cứu thiết kế và chế tạo mô hình bộ phận định lượng và vô bịch máy đóng bịch nấm linh chi” là cần thiết.
Mục tiêu nghiên cứu đề tài 1. Mục tiêu chung Nghiên cứu đánh giá thực trạng nền nông nghiệp trồng nấm tại nước ta, đưa ra đề suất nâng cao năng suất và đảm bảo chất lượng sản phẩm. Thiết kế, chế tạo mô hình định lượng và vô bịch máy đóng bịch nuôi nấm linh chi, góp phần thúc đẩy sự phát triền của ngành trồng nấm tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể Nghiên cứu đánh giá thực trạng sự việc sử dụng nấm linh chi tại nước ta.
Nghiên cứu đề xuất cách thức nuôi trồng nấm linh chi, áp dụng cụ thể đối với điều kiên khí hậu ở nước ta. Thiết kế, chế tạo mô hình định lượng và vô bịch máy đóng bịch nấm linh chi. 21 Thử nghiệm hoạt động của thiết bị định lượng và vô bịch máy đóng bịch nấm linh chi. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.
Đối tượng nghiên cứu Liên quan đến đề tài, một số các đối tượng sau đây được tập trung khảo sát, nghiên cứu: Nấm linh chi. Các cơ cấu, thiết bị đóng bịch nấm linh chi hoặc tương tự. Phạm vi nghiên cứu Cấu tạo máy gồm nhiều bộ phận, đề tài chỉ quan tâm đến bộ phận định lượng và vô bịch nấm linh chi. Do vậy, trong khuôn khổ đề tài chỉ thực hiện các công việc sau: - Băng tải để vận tải nguyên vật liệu (có sẵn).
- Bộ phận làm tơi mùn cưa (có sẵn). - Đề xuất các cơ cấu định lượng và vô lọ. - Đề xuất phương án kết cấu, thiết kế mô hình thiết bị định lượng và vô lọ. - Chế tạo mô hình định lượng và vô lọ.
- Thử nghiệm thực tế các cụm (thiết bị) chế tạo và hoàn chỉnh thiết kế. Phương pháp nghiên cứu 1. Cơ sở phương pháp luận Tiếp cận các nguồn tài liệu và thông tin: Tìm hiểu các loại tài liệu chuyên ngành, các nguồn thông tin có liên quan từ các tạp chí khoa học, báo, đài, internet, vv… Quá trình thu thập thông tin, phân tích, đánh giá dựa trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn sản xuất. Tiếp cận thực tiễn: Tìm hiểu thực trạng các thiết bị, máy móc đang sử dụng trong lĩnh vực nghiên cứu có liên quan.
Thu thập các thông tin có liên quan đến đề tài từ các đề tài trước và phát triển đề tài. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 22 Phương pháp kế thừa: Kế thừa các công trình, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước. Phương pháp chế tạo: Chế tạo từng chi tiết theo yêu cầu đã thiết kế. Sau đó, tiến hành lắp ráp, khảo nghiệm theo quy trình.
Phương pháp đo: Để kiểm tra, đo đạc các thông số đầu vào và lấy số liệu chỉ tiêu đánh giá, đề tài sử dụng các dụng cụ, thiết bị đo lường (đồng hồ đo số vòng quay; thước kẹp; thước đo độ, vv…) để xác định các chỉ tiêu cụ thể. Phương pháp khảo nghiệm và tìm thông số phù hợp: Sau khi lập bản vẽ, tính toán, thiết kế và chế tạo sẽ khảo nghiệm và đánh giá các kết quả. Từ đó so sánh với yêu cầu đặt ra, khảo sát đánh giá kết quả đạt được và khắc phục các nhược điểm của máy, tìm ra các thông số phù hợp cho máy. Mục đích của việc khảo nghiệm nhằm giải quyết các công việc như sau: - Kiểm tra việc lựa chọn nguyên lý máy và sự phù hợp của các chi tiết máy; - Kiểm tra độ bền, độ ổn định của các chi tiết, có đảm bảo làm việc lâu dài trong điều kiện sản xuất; - Kiểm tra sơ bộ về chi phí năng lượng, năng suất của máy; 1.
Kết cấu đề tài Đề tài “Nghiên cứu thiết kế và chế tạo mô hình bộ phận định lượng và vô bịch máy đóng bịch nấm linh chi.” gồm 5 chương, kết luận và kiến nghị. - Chương 1: Tổng quan - Chương 2: Giới thiệu về nấm linh chi - Chương 3: Cơ sở lý thuyết và thực nghiệm - Chương 4: Tính toán - Chương 5: Chế tạo, chạy thử nghiệm, đánh giá Kết luận và kiến nghị 23 Chương 2 NẤM LINH CHI 2. Tổng quan về nấm linh chi 2. Giới thiệu nấm linh chi Linh chi có rất nhiều tên gọi: Nấm vạn năm, nấm thần tiên, cỏ trường sinh, hạnh nhỉ, vv…linh chi là vị thuốc quý đã được loài người nghiên cứu sử dụng từ lâu đời.
Trong sách “Thần nông bản thảo” - một dược thư cổ của Trung Quốc cách đây hơn 2.000 năm cũng ghi lại khá nhiều tác dụng chữa bệnh của linh chi. Linh chi (Ganoderma) có chu trình sống giống các loại nấm đảm khác, vị trí phân loại như sau: Ngành: Eumycote Bộ: Polyporales Chi: Ganoderma Lớp: Basidiomycetes Họ: Ganodermataceae Loài: Ganoderma lucidum Hình 2.1: Nấm linh chi 24 2. Đặc điểm sinh học nấm linh chi Linh chi thuộc nhóm nấm lớn và rất đa dạng về chủng loại. Từ khi xác lập thành một chi riêng, là Ganoderma Karst (1881), đến nay tính ra có hơn 200 loài được ghi nhận, riêng Ganoderma lucidum đã có 45 thứ.
Nấm linh chi (quả thể) cây nấm gồm 2 phần cuống nấm và mũ nấm (phần phiến đối điện với mũ nấm). Cuống nấm dài hoặc ngắn hay không cuống, đính bên có hình trụ đường kính 0,5 - 3cm. Cuống nấm cứng, ít phân nhánh, đôi khi có uốn khúc cong queo. Lớp vỏ cuống màu đỏ, nâu đỏ, nâu đen, bóng, không có lông, phủ suốt lên mặt tán nấm.