Chương 1 cung cấp cái nhìn tổng quan về thương mại điện tử tại Việt Nam trong thời gian qua, từ đó nhận định về tính cấp thiết của đề tài. Trong chương này tác giả cũng nêu ra mục tiêu nghiên cứu của đề tài; phạm vi và đối tượng nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài và nêu bố cục của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Trong chương 2 trình bày các cơ sở lý thuyết về thương hiệu, thương hiệu điện tử, thương mại điện tử, các thành phần trong thiết kế thương hiệu điện tử; Niềm tin và Lòng trung thành thương hiệu.
Chương 2 cũng trình bày một số mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự trung thành thương hiệu điện tử từ đó so sánh, đánh giá và đề xuất áp dụng mô hình nghiên cứu lý thuyết cho đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày quy trình nghiên cứu, thu thập dữ liệu và cách thức phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 4 trình bày kết tổng quan về tình hình thương mại điện tử tại địa bàn nghiên cứu là thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả 5 phân tích dữ liệu khảo sát định lượng, đo lường mức độ tác động của các thành phần trong thiết kế thương hiệu điện tử đến niềm tin và lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu điện tử B2C. Chương 5: Thảo luận và khuyến nghị. Chương 5 đưa ra các nhận xét, đánh giá về kết quả phân tích dữ liệu.
Đưa ra các đề xuất điều chỉnh các thành phần trong thiết kế thương hiệu điện tử để nâng cao niềm tin và lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu điện tử B2C trong thời gian tới. 6 CHƢƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT Cơ sở lý thuyết tạo nên khung sườn của bài nghiên cứu này bao gồm các nhân tố về thiết kế thương hiệu điện tử B2C, niềm tin và lòng trung thành của khách hàng. Theo đó, chương II trình bày tham khảo một số nghiên cứu trước đó về sự trung thành thương hiệu điện tử và các mô hình nghiên cứu lý thuyết kèm theo. Tổng quan về thƣơng hiệu 2.1 Khái niệm thƣơng hiệu Thuật ngữ thương hiệu tiếng Anh là “Brand” xuất hiện từ rất lâu.
“Brand” có nguồn gốc từ Iceland nghĩa là “đóng dấu” giúp nông dân nhận ra đàn cừu của mình thông qua các dấu hiệu được “đóng dấu” bằng sắt nung. Cho đến hiện nay có rất nhiều định nghĩa về thương hiệu, ta có thể hiểu một cách tổng quát thương hiệu là những dấu hiệu được doanh nghiệp sử dụng trong kinh doanh nhằm phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của mình với những hàng hóa hay dịch vụ khác. Có nhiều quan điểm về thương hiệu, nhưng cơ bản có thể chia thành 02 quan điểm chính: Quan điểm truyền thống và quan điểm tổng hợp. Theo quan điểm truyền thống về thương hiệu của Hiệp hội marketing Hoa Kỳ: “Thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ hay tổng hợp tất cả các yếu tố kể trên nhằm xác định một sản phẩm hay dịch vụ của một hay một nhóm người bán và phân biệt các sản phẩm (dịch vụ) đó với các đối thủ cạnh tranh (Lê Anh Cường, 2004).
Như vậy, theo quan điểm truyền thống: - Thương hiệu được hiểu như là một thành phần của sản phẩm, dịch vụ. Khách hàng mua một sản phẩm và thương hiệu là một phần nhỏ trong đó. - Chức năng chính của thương hiệu chỉ là để phân biệt sản phẩm, dịch vụ của mình với sản phẩm, dịch vụ cạnh tranh cùng loại mà thôi. Theo quan điểm tổng hợp về thương hiệu : 7 Trước hết chúng ta cần phân biệt hai khái niệm hiện nay hay được sử dụng lầm lẫn là: nhãn hiệu và thương hiệu.
Nhãn hiệu (Trademark) là dấu hiệu của thương hiệu Brand) đã được đăng ký chính thức, vượt qua các thử thách do yêu cầu đăng ký về chất lượng, mẫu mã, tiêu chuẩn công nghiệp và tính riêng biệt đưa ra. Nhãn hiệu là thứ mà thế giới có thể trao đổi, đăng ký qua lại và xử lý với nhau khi có xảy ra tranh chấp. Do đó, chỉ khi nào hàng hóa có nhãn hiệu đàng hoàng thì nó mới là nhãn hiệu thương phẩm. Nói nhãn hiệu là nói cái cụ thể đã đi qua quy trình công nhận giá trị sở hữu công nghiệp, chứ không chỉ nhằm vào “tính chất nhãn hàng” nói chung.
Tại Việt Nam Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa do Cục Sở hữu trí tuệ cấp. Có thể thấy được điểm khác biệt giữa hai khái niệm Thương hiệu (Brand) và Nhãn hiệu (Trademark) như sau: Bảng 2.1: Phân biệt giữa khái niệm Thương hiệu (Brand) và Nhãn hiệu Thƣơng hiệu Nhãn hiệu 1. Khái niệm về thương mại, tài sản vô 1. Khái niệm về luật pháp, tài sản hữu hình hình 2.
Hiện diện trong tâm trí người tiêu 2. Hiện diện trên văn bản pháp lý dùng 3. Doanh nghiệp đăng ký, cơ quan chức 3. Doanh nghiệp xây dựng, người năng công nhận tiêu dùng chấp nhận 4.
Xây dựng trên hệ thống luật pháp 4. Xây dựng trên hệ thống tổ chức quốc gia của doanh nghiệp 5. Là phần thể xác của doanh nghiệp. Là phần linh hồn của doanh nghiệp (Nguồn: Lý Quý Trung, 2007) Theo quan điểm tổng hợp “Thương hiệu là một tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi.
Còn sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng. Như vậy, các thành phần Marketing hỗn hợp 4P - sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị cũng chỉ là các thành phần của một thương hiệu”. 8 Như vậy cũng giống như một con người có phần xác và phần hồn thì quan điểm này ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận xuất phát từ lý do là người tiêu dùng có hai nhu cầu: - Nhu cầu về chức năng (functional needs) (1) - Nhu cầu về tâm lý (psychological needs) (2) Sản phẩm chỉ cung cấp cho người tiêu dùng nhu cầu về chức năng (1), còn thương hiệu mới cung cấp cho người tiêu dùng nhu cầu về tâm lý (2) (Hankinson và Cowing, 1993). Chính vì thế, ngày nay thương hiệu đã dần dần thay thế cho sản phẩm trong các hoạt động Marketing của doanh nghiệp.
Bản chất của việc xây dựng thương hiệu là xây dựng tình cảm của khách hàng đối với sản phẩm, khách hàng nghĩ gì về sản phẩm đó mới chính là điều các nhà Marketing nên tập trung vào. Hay có thể nói một cách dễ hiểu hơn xây dựng thương hiệu chính là xây dựng “sản phẩm nằm trong tâm trí của khách hàng” Hình 2.1: Hai mô hình về mối quan hệ giữa sản phẩm và thương hiệu Thương hiệu là một thành phần của Sản phẩm là một thành phần của sản phẩm thương hiệu Sản phẩm Thương hiệu Thương hiệu Sản phẩm (Nguồn: Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang,2003) Như vậy, theo quan điểm mới, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu. Sản phẩm là những gì sản xuất trong nhà máy, thương hiệu là những gì khách hàng mua. Sản phẩm có thể bị bắt chước nhưng thương hiệu là tài sản riêng của doanh nghiệp.
Sản phẩm có thể nhanh chóng bị lạc hậu, nhưng tạo dựng thương 9 hiệu thành công sẽ không bao giờ bị tụt hậu. Quan điểm mới về thương hiệu ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận. Các nhà quản trị kinh doanh phải nỗ lực xây dựng, quảng bá và phát triển được các thương hiệu mạnh trên thị trường mục tiêu thì doanh nghiệp mới có thể cạnh tranh và phát triển. Qua nhiều định nghĩa khác nhau chúng ta thấy rằng quan điểm về thương hiệu và nhãn hiệu vẫn còn có sự khác nhau giữa các nhà nghiên cứu chưa có sự khác nhau rõ ràng giữa nhãn hiệu và thương hiệu.
Tuy nhiên, qua các định nghĩa nêu trên, theo tác giả khái nhiệm về thương hiệu nên được hiểu rộng hơn, thương hiệu bao gồm tất cả những gì mà khách hàngvà cộng đồng thật sự cảm nhận về doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ được cung ứng bởi doanh nghiệp, còn nhãn hiệu chỉ là những gì mà doanh nghiệp muốn truyền đạt đến đối tác của mình. Nói cách khác, thương hiệu là một khái niệm xuyên suốt cả quy trình từ thông điệp truyền đi bởi doanh nghiệp đến thông điệp mà khách hàng cảm nhận được. Vì vậy, nhãn hiệu chỉ mang tính vật thể, còn thương hiệu mang tính phi vật thể. Nhãn hiệu là những gì đập vào mắt, vào giác quan và là thông điệp phát ra từ phía doanh nghiệp.
Còn thương hiệu thể hiện mối quan hệ qua lại, sự gặp nhau giữa người phát thông điệp và người nhận, nó là sự tương tác giữa tâm lý người phát và tâm lý người nhận.2 Đặc tính của thƣơng hiệu Đặc tính thương hiệu là một tập hợp duy nhất các liên kết thuộc tính mà các nhà chiến lược thương hiệu mong muốn tạo ra và duy trì. Những sự liên kết này sẽ phản ánh cái mà thương hiệu hướng tới và sự cam kết của doanh nghiệp đối với khách hàng. Đặc tính thương hiệu thể hiện định hướng, mục đích và ý nghĩa của thương hiệu đó. Đây là đặc điểm giúp người tiêu dùng phân biệt được các thương hiệu với nhau.
Thương hiệu mang các đặc tính sau: Là loại tài sản vô hình, có giá trị ban đầu bằng không. Giá trị của nó được hình thành dần do sự đầu tư vào chất lượng sản phẩm và các phương tiện quảng bá. Thương hiệu là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp, nhưng lại nằm ngoài phạm vi doanh nghiệp và tồn tại trong tâm trí người tiêu dùng. 10 Thương hiệu được hình thành dần qua thời gian nhờ nhận thức của người tiêu dùng khi họ sử dụng sản phẩm của những nhãn hiệu được yêu thích, tiếp xúc với hệ thống các nhà phân phối và qua quá trình tiếp nhận những thông tin về sản phẩm.
Thương hiệu là tài sản có giá trị tiềm năng, không bị mất đi cùng với sự thua lỗ của các doanh nghiệp (Nguyễn Ngọc Hạnh, 2010).3 Vai trò, chức năng của thƣơng hiệu 2.1 Vai trò của thƣơng hiệu đối với doanh nghiệp Thương hiệu có thể giúp doanh nghiệp thiết lập hệ thống giá cao và ít lệ thuộc hơn đến các chương trình quảng cáo, khuyến mãi, giảm được chi phí và tăng lợi nhuận. Cùng một loại hàng hóa, không xét chênh lệch về chất lượng thì sản phẩm nào có thương hiệu tốt hơn thì người tiêu dùng sẵn sàng bỏ ra giá cao hơn để sở hữu chúng. Nhờ có giá cao hơn mà doanh nghiệp sẽ tăng thêm được lợi nhuận khi lượng sản phẩm tiêu thụ tăng.