chương 1 cũng đã nghiên cứu các yêu cầu về mạng quang thế hệ sau cần phải đáp ứng và kiến trúc cho mạng quang thế hệ sau. Trong chương kế tiếp sẽ nghiên cứu các thành phần cơ bản để kết cấu một mạng AON. Đồ án tốt nghiệp cao học 10 Ngô Hữu Hậu Các thành phần cấu thành mạng toàn quang CHƯƠNG 2 CÁC THÀNH PHẦN CẤU THÀNH MẠNG TOÀN QUANG Trong chương này sẽ tập trung vào lý do mạng quang trở nên phổ biến và các ưu điểm của sợi quang cũng như chi tiết về các hệ thống DWDM. Ngoài ra cũng xem xét các thiết bị hỗ trợ cho mạng AON như bộ đấu chéo quang OXC (Optical Cross-connect) và bộ chuyển đổi bước sóng WC (Wavelength Converter).
Các phần trong chương này sẽ nêu bật được ưu điểm của hệ thống DWDM khi cho phép dung lượng truyền dẫn vô cùng lớn (chẳng hạn có thể tạo ra băng thông cho một kênh bước sóng là 10 Gbps, và giả sử ghép 40 kênh bước sóng trên một sợi quang thì băng thông tổng trên sợi quang lúc này là 400 Gbps). Với dung lượng truyền dẫn lớn như vậy thì hệ thống hoàn toàn có thể đáp ứng được các nhu cầu băng thông rộng trong thế kỷ 21 như thoại có hình, video-on-demand, hội nghị truyền hình, thông tin di động v.v… Xu hướng hội tụ trong tương lại như đã được trình bày trong Chương 1 đó là hội tụ tới mạng toàn quang AON (All Optical Network) và mạng có khả năng định tuyến và gán bước sóng động (Dynamic Routing and Wavelength Assignment). Để thực hiện được điều này bên cạnh phải có những thuật toán, thiết bị mới thì các thành phần cơ bản trong mạng quang phải đáp ứng các tiêu chí: Đồ án tốt nghiệp cao học 11 Ngô Hữu Hậu Các thành phần cấu thành mạng toàn quang • Dung lượng sợi: Do nhu cầu về truyền thông trong tương lai vô cùng lớn nên sợi quang phải có khả năng truyền tải được một lượng lớn bước sóng riêng rẽ với suy hao thấp. • Khả năng khôi phục: Một mạng gồm rất nhiều lớp, mỗi lớp thường có cơ chế bảo vệ riêng độc lập với các lớp khác.
Đối với hệ thống WDM với nhiều kênh trên một sợi quang, một sợi bị đứt sẽ gây ra nhiều lỗi dẫn đến nhiều hệ thống độc lập bị lỗi. Với việc khôi phục trên lớp quang thay vì lớp điện có thể thực hiện chuyển mạch bảo vệ nhanh hơn và kinh tế hơn. • Giảm chi phí: Với sự ra đời của bộ khuếch đại EDFA chi phí cho việc khuếch đại tín hiệu giảm đáng kể do không phải thực hiện chuyển đổi quang-điện-quang (O-E-O). Trong một mạng quang với các bộ ghép kênh xen/rẽ bước sóng chỉ có các kênh được yêu cầu mới được ghép hoặc tách trong khi các bước sóng khác đi thẳng không cần qua biến đổi.
Chỉ có bước sóng nào mà ghép/tách lưu lượng ở một site thì mới cần các biến đổi điện tương ứng còn các kênh khác đơn giản đi qua miền quang. Điều này tiết kiệm chi phí quản lý mạng và thiết bị. • Kênh bước sóng: Một ưu điểm lớn của sợi quang là băng thông truyền tải vô cùng lớn. Do đó các nhà cung cấp dịch vụ có thể tăng lợi nhuận bằng cách bán các kênh bước sóng với bất kỳ yêu cầu nào về tốc độ truyền dữ liệu.
Hệ thống DWDM DWDM là một kỹ thuật truyền dẫn sợi quang. Nó thực hiện ghép nhiều bước sóng khác nhau vào trong cùng một sợi quang do đó mỗi sợi quang sẽ có thể truyền đồng thời nhiều kênh bước sóng. Do có nhiều loại tín hiệu đầu vào (không nhất thiết phải là kênh bước sóng tại lớp quang) do đó công nghệ Đồ án tốt nghiệp cao học 12 Ngô Hữu Hậu Các thành phần cấu thành mạng toàn quang DWDM cho phép nhà cung cấp dịch vụ tích hợp với các thiết bị đang tồn tại trên mạng. Một đặc điểm quan trọng của DWDM đó là các bước sóng được điều chế trực giao do đó chúng có thể được tách, định tuyến, chuyển mạch mà không gây nhiễu cho các bước sóng khác.
Mỗi tín hiệu được mang ở các tốc độ khác nhau (OC-3/12/24 v.v…) với các định dạng khác nhau (SONET, ATM, data v. Chẳng hạn một hệ thống DWDM trộn các tín hiệu SONET hoạt động ở tốc độ OC-48 (2,5 Gbps) hoặc OC-192 (10 Gbps) có thể mang được tổng dung lượng trên 40 Gbps. Trong tương lai hệ thống DWDM có thể ghép được lên tới 80 kênh bước sóng OC-48 nâng tổng dung lượng truyền lên tới 200 Gbps hoặc 40 kênh bước sóng OC-192 nâng tổng dung lượng truyền lên tới 400 Gbps. Các thành phần cấu thành mạng DWDM Có thể hình dung một tuyến truyền dẫn DWDM điểm nối điểm (point-to- point) như hình vẽ dưới đây.
1 Tuyến truyền dẫn quang điểm nối điểm (point-to-point) Như Hình 2.1 có thể nhận thấy rằng để có thể cấu thành một mạng DWDM cần các thành phần như sợi quang, nguồn quang, bộ thu quang, khuếch đại quang EDFA, các bộ ghép kênh xen/rẽ bước sóng. Đồ án tốt nghiệp cao học 13 Ngô Hữu Hậu Các thành phần cấu thành mạng toàn quang 2. Sợi quang Sợi quang ra đời đã đánh dấu một bước quan trọng trong thông tin quang. Với khả năng truyền tải lớn, nhiều bước sóng trên cùng sợi quang đã tạo nên một cuộc cách mạng trong lĩnh vực thông tin quang.
Trong sợi quang quan tâm chủ yếu tới 2 vùng suy hao thấp. Một là ở cửa sổ 1300 nm với suy hao xấp xỉ 0,5 dB/km và vùng cửa sổ 1550 nm với suy hao xấp xỉ 0,2 dB/km. Với việc sử dụng các bước sóng trong dải suy hao thấp này sẽ làm giảm số bộ khuếch đại cũng như các bộ lặp cần thiết để đảm bảo chất lượng tín hiện. Trong hệ thống thông tin quang thì yêu cầu tối thiểu tốc độ lỗi bit (BER) thấp hơn 10 −11.
Sợi quang có thể được phân biệt bởi hai loại đó là sợi đơn mode và sợi đa mode. Như theo luật Snell thì để có thể xẩy ra hiện tượng phản xạ toàn phần tại giao diện giữa core và cladding thì góc tới phải lớn hơn góc tới hạn θ crit n clad θ inc > sin −1 n core Về mặt lý thuyết thì bất kỳ bước sóng tới nào có θ core lớn hơn θ crit thì đều có thể truyền được trên sợi quang. Tuy nhiên một số bước sóng có góc tới không thể truyền được do nhiễu giữa các bước sóng tới. Chính vì lẽ đó số lượng góc tới mà ở đó bước sóng có thể truyền qua sợi sẽ được gọi là số mode sóng.
Nếu có nhiều hơn một mode có thể truyền trong một sợi quang thì sợi đó được gọi là sợi quang đa mode (multimode). Một vài tiêu chí đối với sợi quang trong hệ thống thông tin DWDM: • Tốc độ: Mạng quang hoạt động ở tốc độ cao lên tới THz. • Băng thông: Khả năng mang một lượng lớn băng thông. • Khoảng cách: Tín hiệu có thể được truyền đi xa mà không cần phải lặp.
Đồ án tốt nghiệp cao học 14 Ngô Hữu Hậu Các thành phần cấu thành mạng toàn quang • Chống nhiễu: Chống nhiễu điện từ như radio, motor hoặc các sợi cáp khác liền kề. • Bảo dưỡng: Cáp sợi quang có chi phí bảo dưỡng thấp. Chức năng của sợi quang là một ống dẫn ánh sáng. Tín hiệu quang được đưa vào một đầu và được lấy ra ở đầu bên kia.
Nguồn sáng có thể sử dụng là LED hoặc laser. Nguồn sáng là các xung ánh sáng bật (on) và tắt (off) và phía thu sẽ chuyển đổi các xung này thành các tín hiệu số 1 và 0 tương ứng. Có 3 loại sợi quang: sợi đơn mode, sợi đa mode, sợi quang plastic (POF) • Sợi đơn mode: Nó là một chuẩn của sợi thuỷ tinh có đường kính lõi từ 8,3 µm đến 10 µm và chỉ hỗ trợ truyền một mode sóng. Sợi đơn mode cho phép truyền dẫn ở tốc độ cao hơn 50 lần so với sợi đa mode.
Sợi đơn mode có lõi nhỏ hơn sợi đa mode. Sóng ánh sáng chỉ được truyền theo một đường duy nhất (đơn mode). • Sợi đa mode: Đây là sợi có đường kính lõi từ 50 đến 100 µm (thông thường là 62,5 µm ). Sợi đa mode cho băng thông cao ở các tốc độ cao trên các khoảng cách trung bình.
Sóng ánh sáng được truyền theo nhiều đường (đa mode). Sợi quang đa mode thường được sử dụng với các bước sóng 850 hoặc 1300 nm. • POF: Đây là sợi quang plastic cung cấp hiệu suất tương đương sợi thuỷ tinh trên quãng đường rất ngắn nhưng rẻ hơn. Thiết bị phát quang Thiết bị phát quang có nhiệm vụ chuyển đổi tín hiệu điện thành tín hiệu quang và đưa tín hiệu quang vào trong sợi quang.
Tín hiệu điện đến sẽ điều khiển để một laser phát ánh sáng vào trong sợi quang. Mô hình một hệ thống DWDM Đồ án tốt nghiệp cao học 15 Ngô Hữu Hậu Các thành phần cấu thành mạng toàn quang Hình 2. 2 Hệ thống DWDM Nguồn quang bán dẫn được sử dụng cho hệ thống sợi quang từ thiết bị rẻ tiền như LED đến các thiết bị đắt tiền như laser bán dẫn. Tuy nhiên đối với hệ thống DWDM do số lượng bước sóng được ghép trên một sợi quang là lớn cho nên tính đơn sắc của tia sáng phải cao.
Chính vì thế các laser bán dẫn được làm nguồn phát là chủ yếu. Một hệ thống quang sợi nên thoả mãn các điều kiện sau: • Sử dụng bước sóng tại vùng cửa sổ suy hao thấp của sợi quang. • Công suất quang đưa vào trong sợi quang phải đủ lớn để sao cho có thể bù được các suy hao trong quá trình truyền như suy hao sợi quang, suy hao kết nối, suy hao mối hàn, v.v…và mức tín hiệu tại đầu thu phải lớn hơn độ nhạy cho phép của bộ thu. • Đảm bảo tính ổn định của hệ thống trong điều kiện môi trường thay đổi (chẳng hạn nhiệt độ).
• Cho phép điều chế trực tiếp công suất đầu ra quang. • Chi phí thấp và ổn định hơn so với hệ thống điện. Đồ án tốt nghiệp cao học 16 Ngô Hữu Hậu Các thành phần cấu thành mạng toàn quang Như ở trên ta đã biết sợi quang có 3 vùng cửa sổ suy hao thấp là 850 nm, 1300 nm và 1550 nm. Nguồn bán dẫn được thiết kế để hoạt động ở các bước sóng mà tối thiểu hấp thụ quang và tối đa băng thông hệ thống.
Các bộ phát quang cho hệ thống DWDM yêu cầu phải có độ phân giải cao, các laser băng hẹp chính xác. Laser cho phép khoảng cách giữa các kênh rất gần do vậy ta sẽ tăng được số lượng bước sóng được ghép trên một sợi quang.