Chương 1 – GIỚI THIỆU: Giới thiệu tổng quan đề tài, tính thực tiễn và sơ lược về hướng tiếp cận của luận văn bằng giải thuật tính ma trận đồng hiện mức xám (GLCM). Thiết kế IP tính GLCM GVHD: T.S Trương Công Dung Nghi -12- Chương 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT: trình bày có nguyên tắc xậy dựng ma trận đồng hiện mức xám, các thông tin thống kê có thể trích xuất từ ma trận này. Chương 3 – THIẾT KẾ VÀ THỰC HIỆN PHẦN CỨNG : trình bày cụ thể cấu trúc phần cứng IP của GLCM, các engines, nguyên tắc hoạt động, phân bố tài nguyên, cách thức thực hiện IP trên board DE2-115. Chương 4 – THIẾT KẾ VÀ THỰC HIỆN PHÀN MỀM : trình bày giao diện GUI Matlab và và giao tiếp UART với phần cứng.
Chương 5 – KẾT QUẢ VÀ ĐÁNH GIÁ: trình bày kết quả đạt được, minh chứng hoạt động của thuật toán trên phần cứng, bao gồm hai bước chính o Kết quả kiểm tra bằng chương trình mô phỏng Quartus, VCS o Thực hiện hoàn chỉnh mô hình ứng dụng tìm kiếm văn bản: HOST – Matlab – UART – FPGA Chương 6 – KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN: đúc kết thành quả cũng như hạn chế của phương pháp, hướng tiếp cận, đồng thời đề ra gợi ý hướng phát triển cho nghiên cứu tiếp theo Ngoài ra còn hai mục liên quan tới tài liệu tham khảo, phụ lục bao gồm những hình chụp dạng sóng trong quá trình kiểm tra. Thiết kế IP tính GLCM GVHD: T.S Trương Công Dung Nghi -13- Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở về kết cấu (Texture) Kết cấu (Texture) đóng một vai trò quan trọng trong nhiều công việc của thị giác máy tính như kiểm tra bề mặt, phân loại cảnh, và định hướng bề mặt và xác định hình dạng. Ví dụ, các tính năng kết cấu bề mặt được sử dụng trong việc kiểm tra các tấm bán dẫn, các tính năng phân bố mức xám của các vùng kết cấu đồng nhất được sử dụng trong phân loại hình ảnh trên không và các biến thể trong các mẫu kết cấu do phép chiếu phối cảnh được sử dụng để xác định hình ảnh ba chiều của các đối tượng. Kết cấu được đặc trưng bởi sự phân bố không gian của các mức màu xám trong một vùng lân cận.
Vì vậy, kết cấu không thể được xác định cho một điểm. Ví dụ, khi quan sát hình ảnh của một sàn lát gạch từ một khoảng cách lớn, chúng tôi quan sát cấu trúc được hình thành bằng cách đặt các viên gạch, nhưng các viên gạch trong các tấm lát không nhận thức được điều này. Khi cùng một cảnh được quan sát từ một khoảng cách gần hơn, do chỉ có một vài viên gạch nằm trong khu vực được xem xét nên chúng ta bắt đầu nhận ra các kết cấu được hình thành bởi các vị trí của các mẫu chi tiết. Với mục đích của chúng tôi, chúng ta có thể định nghĩa kết cấu là các mẫu lặp lại các biến thể địa phương về cường độ ảnh để phân biệt các đối tượng riêng biệt ở cùng một độ phân giải được quan sát.
Do đó, một tập kết nối các điểm ảnh thỏa mãn một thuộc tính mức xám nhất định xảy ra nhiều lần trong vùng ảnh tạo thành vùng kết cấu. Một ví dụ đơn giản là một mẫu lặp lại các dấu chấm đen trên nền trắng hay văn bản được in trên giấy trắng cũng tạo thành kết cấu. Ở đây, mỗi mức nguyên thủy mức xám được tạo thành bởi việc kết nối các tập hợp các điểm ảnh đại diện cho mỗi đối tượng. Quá trình đặt các đặt tính lên trên hệ thống và đặt các hệ thống thực hiện tuần tự như trang viết này là một kết cấu có trật tự.
Có ba vấn đề chính trong phân tích kết cấu: phân loại kết cấu, phân đoạn kết cấu, và phục hồi hình dạng từ kết cấu. Trong phân loại kết cấu, vấn đề là xác định vùng kết cấu đã cho từ một tập các lớp kết cấu nhất định. Ví dụ: một khu vực cụ thể trong hình ảnh trên không có thể thuộc về đất nông nghiệp, khu vực rừng hoặc khu vực thành thị. Mỗi khu vực này có đặc tính kết cấu độc đáo.
Các thuật toán phân tích kết cấu trích xuất các tính năng phân biệt từ mỗi vùng để tạo điều kiện phân loại các mô hình như vậy. Ngụ ý ở đây là giả định rằng ranh giới giữa các khu vực đã được xác định. Các phương pháp thống kê được sử dụng rộng rãi trong phân loại kết cấu. Các thuộc tính như sự xuất hiện đồng thời cấp độ xám, tương phản, entropy và tính đồng nhất được tính từ các mức xám để phân loại.Trong những phương pháp này một mô hình kết cấu được giả định đầu tiên và các thông số của nó làm chuẩn cho các mô hình kết cấu học tập.
Sau đó, các vùng ảnh khác được ước lượng Thiết kế IP tính GLCM GVHD: T.S Trương Công Dung Nghi -14- và sử dụng mô hình gần giống với vùng ảnh đầu vào ban đầu. Các thông số này sẽ hữu ích như tính phân biệt để phân loại khu vực. Trái ngược với phân loại kết cấu, nhãn lớp của một vùng đơn nhất được xác định bằng cách sử dụng các thuộc tính được tính từ vùng đó, việc lấy mẫu kết cấu liên quan đến việc tự động xác định ranh giới giữa các vùng văn bản khác nhau trong một hình ảnh. Mặc dù các phép đo kết cấu là định lượng, một khi được xác định, rất có ích trong phân đoạn, hầu hết các phương pháp thống kê để xác định các tính chất kết cấu không cung cấp các phép đo chính xác trừ phi tính toán được giới hạn trong một vùng kết cấu đơn.
Cả hai phương pháp dựa trên vùng và các phương pháp dựa trên ranh giới đã cố gắng để phân đoạn hình ảnh kết cấu. Những phương pháp này tương tự như những phương pháp được sử dụng cho các phương pháp tách đối tượng. Phân tích cấu trúc là lĩnh vực hoạt động tích cực của nghiên cứu, và nhiều phương pháp, được thiết kế cho một ứng dụng cụ thể, đã được đề xuất trong tài liệu. Tuy nhiên, không có phương pháp chung nào hữu ích trong nhiều tình huống khác nhau.2 Ma trận đồng hiện mức xám (Gray Level Co-occurrence Matrix - GLCM) Do cấu trúc là thuộc tính không gian nên biểu đồ histogram một chiều không hữu ích trong việc mô tả cấu trúc (ví dụ: một hình ảnh trong đó các điểm ảnh thay đổi từ đen sang trắng trong một mặt bàn cờ sẽ có biểu đồ histogram tương tự như hình ảnh trong đó nửa trên Là màu đen và nửa dưới là màu trắng).
Để nắm bắt sự phụ thuộc không gian của các giá trị cấp độ xám góp phần nhận thức về kết cấu, một ma trận phụ thuộc hai chiều được gọi là ma trận đồng hiện mức xám được sử dụng rộng rãi trong phân tích cấu trúc.1 Cấu trúc GLCM GLCM là một ma trận chứa đựng số lần xuất hiện của 2 mức xám trong tất cả các cặp mức xám của một hình ảnh. Cột và hàng của GLCM là giá trị mức xám của điểm ảnh đang xét và điểm ảnh đáp ứng theo không gian và khoảng cách tương ứng. Do đó, kích thước của GLCM bằng với giá trị mức xám được biểu diễn của hình ảnh. GLCM có 2 thông số để tính toán ma trận là khoảng cách giữa các điểm ảnh d và góc của điểm ảnh lân cận 𝜃.[3] Thiết kế IP tính GLCM GVHD: T.S Trương Công Dung Nghi -15- 𝜃= 135o 𝜃= 90o 𝜃= 45o 𝜃= 0o 𝑑= 5 Hình 1 Các góc tính toán ứng với khoảng cách giữa 2 điểm ảnh d = 5 Ví dụ: Ma trận mức xám tương quan tạo thành từ hình ảnh gốc với 8 giá trị mức xám và khoảng cách d= 1, 𝜃 = 0o.
Tương tự cho các góc còn lại. [4] Trong giới hạn đề tài, thiết kế chọn bốn hướng chính cho việc so sánh các cặp Hình 2 Ma trận mức xám tương quan P(i,j) tạo từ ảnh gốc với (d, θ) =(1,0) giá trị mức xám để thực hiện tính toán GLCM đó là 0o, 45o, 90o, 135o, kích thước ảnh con đầu vào là 32x32 điểm ảnh với giá trị mức xám của mỗi điểm ảnh là từ 0 đến 255, khoảng cách d tính toán cho các cặp điểm ảnh sẽ lần lượt là 1, 2, 3, 4; cuối cùng, kích thước GLCM đầu ra sẽ có bốn giá trị là 8x8, 16x16, 32x32, 64x64. Thiết kế IP tính GLCM GVHD: T.S Trương Công Dung Nghi -16- Hình ảnh bên dưới là ví dụ về một ảnh con đầu vào kích thước 4x4, với các giá trị quy đinh về hàng, cột, mức xám cho từng điểm ảnh. Hình 3 Ảnh mức xám đầu vào và cường độ mức xám của nó Các GLCM của các hướng được tính toán cho ma trận trên như sau: 1 2 3 4 1 2 3 4 1 0 2 1 0 1 0 0 2 0 2 1 0 2 1 2 0 1 2 0 3 1 1 1 1 3 2 1 0 1 4 0 1 0 4 0 0 0 0 GLCM cho 0 GLCM cho 45 1 2 3 4 1 2 3 4 1 2 1 1 0 1 0 1 0 1 2 1 0 1 1 2 1 1 0 0 3 0 2 2 0 3 1 1 2 0 4 1 0 0 0 4 0 0 1 0 GLCM cho 90 GLCM cho 135 Thiết kế IP tính GLCM GVHD: T.S Trương Công Dung Nghi -17- 2.2 Một số đặc tính thống kê trích xuất từ GLCM Haralick đã đăng kí 14 thông tin thống kê được trích xuất từ ma trận đồng hiện mức xám, các thông tin này sẽ được sử dụng trong phân tích kết cấu của hình ảnh.
[5] Một số thống kê được tính toán dựa trên ma trận đồng hiện mức xám như sau: Độ hỗn loạn (Entropy) 𝐸𝑛𝑡𝑟𝑜𝑝𝑦 = − ∑𝑖 ∑𝑗 𝑃[𝑖, 𝑗] log 𝑃[𝑖, 𝑗] Giá trị entropy thể hiện mức độ hỗn loạn các giá trị mức xám của điểm ảnh theo mức độ phân bố. Năng lượng (Energy) 𝐸𝑛𝑒𝑟𝑔𝑦 = ∑ ∑ 𝑃2 [𝑖, 𝑗] 𝑖 𝑗 Giá trị energy thể hiện tổng các giá trị bình phương trong GLCM Độ tương phản (Contrast) 𝐶𝑜𝑛𝑡𝑟𝑎𝑠𝑡 = ∑ ∑(𝑖 − 𝑗)2 𝑃[𝑖, 𝑗] 𝑖 𝑗 Giá trị contrast cho biết mức độ sai lệch cục bộ trong hình ảnh Tính đồng nhất (Homogeneity) 𝑃[𝑖, 𝑗] Homogeneity = ∑ ∑ 1 + |𝑖 − 𝑗| 𝑖 𝑗 Giá trị homogeneity thể hiện mức độ phân bố gần với đường chéo của GLCM. Đề tài luận văn này tập trung vào vấn đề tính toán GLCM thực hiện trên FPGA tích hợp thành một IP, để áp dụng cho các ứng dụng cụ thể của người dùng. Thiết kế IP tính GLCM GVHD: T.S Trương Công Dung Nghi -18- 2.