Chương 1: Tổng quan về bộ ghép kênh RF sử dụng công nghệ mạch vi dải - Chương 2: Thiết kế bộ lọc thông dải sử dụng các bộ cộng hưởng cặp đường truyền song song và bộ ghép nối hình T - Chương 3: Thiết kế và chế tạo bộ ghép kênh RF - Kết luận và đề xuất hướng phát triển của đề tài Nội dung chi tiết của luận văn sẽ được trình bày trong các phần tiếp theo. TỔNG QUAN VỀ BỘ GHÉP KÊNH RF SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ MẠCH VI DẢI Chương này giới thiệu tổng quan về cấu trúc của một bộ ghép kênh RF (bộ ghép kênh siêu cao tần), các cấu trúc và công nghệ phổ biến được sử dụng trong thiết kế các bộ ghép kênh; trong đó tập trung vào công nghệ đường truyền vi dải – công nghệ được sử dụng để thiết kế bộ ghép kênh trong luận văn này. Bên cạnh đó, lí thuyết và phương pháp thiết kế các bộ lọc, bộ cộng gộp các băng tần – các thành phần cơ bản trong cấu trúc của một bộ ghép kênh RF – cũng được giới thiệu.1 Cấu trúc của bộ ghép kênh RF Mục đích cơ bản của các bộ ghép kênh RF là kết hợp hai hoặc nhiều tín hiệu RF từ các đầu vào để đưa ra cùng một đầu ra, đồng thời đảm bảo được sự cách li tín hiệu giữa các đầu vào với nhau. Để đạt được điều đó, các cấu trúc bộ ghép kênh được giới thiệu trong [1] và [2] sử dụng các bộ lọc thông dải có tính chọn lọc tần số cao, kết hợp với một bộ ghép nối để tạo nên bộ ghép kênh RF có đặc tính chọn lọc băng tần tốt và đảm bảo sự cách li tốt giữa các đầu vào.
Với ưu điểm như vậy, cấu trúc đó được sử dụng để nghiên cứu, thực hiện bộ ghép kênh trong đề tài luận văn này, như mô tả trong Hình 1.1 Cấu trúc tổng quát của bộ ghép hai kênh Để bộ ghép kênh đạt được hiệu suất hoạt động tốt, cần thiết kế được các bộ lọc thông dải có đặc tính kĩ thuật tốt như suy hao và độ gợn trong dải thông thấp, khả năng loại bỏ tín hiệu ngoài dải cao, độ dốc sườn cắt lớn; bộ ghép nối cần đảm bảo rằng tín hiệu truyền qua không bị suy hao quá nhiều và giữ cho tín hiệu từ các đầu vào được cách li tốt với nhau. Có nhiều công nghệ và phương pháp để đạt được điều này. Một số công nghệ được sử dụng phổ biến hiện tại như sử dụng ống dẫn sóng, sử dụng các bộ cộng hưởng hốc, đường truyền vi dải,. Abdessamed đã đưa ra sự so sánh về ưu, nhược điểm giữa các công nghệ chế tạo bộ ghép kênh trong [3], căn cứu vào đó, đề tài luận văn lựa chọn sử dụng đường truyền vi dải để thiết kế bộ ghép kênh như một sự cân bằng giữa các yếu tố: dễ chế tạo, chi phí thấp, dễ dàng điều chỉnh, khả năng tích hợp cao bởi kích thước nhỏ mà vẫn cho hiệu suất hoạt động ở mức khá.
Trên thực tế, các công ti lớn sản xuất anten trạm gốc đều sử dụng công nghệ mạch vi dải cho sản phẩm của mình. 1 Cả bộ ghép nối tín hiệu RF và các bộ lọc thông dải cho bộ ghép kênh trong đề tài luận văn này đều được thiết kế dựa trên công nghệ mạch vi dải. Trong phần tiếp theo, các khái niệm cơ bản về đường truyền vi dải, các cấu trúc vi dải phổ biến như cặp đường vi dải song song, các đoạn đường truyền không liên tục đồng thời trình bày các phương pháp phân tích đường truyền vi dải thành các thành phần cơ bản tương đương sẽ được giới thiệu.2 Tổng quan về đường truyền vi dải 1.1 Đường truyền vi dải cơ bản Hình 1.2 mô tả một đường truyền vi dải cơ bản với bề rộng 𝑊𝑊 và độ dày 𝑡𝑡, nằm trên bề mặt của một tấm nền điện môi có độ dày ℎ và hằng số điện môi 𝜀𝜀𝑟𝑟. Mặt còn lại của tấm nền được phủ kim loại làm mặt phẳng đất tham chiếu.2 Cấu trúc của đường truyền vi dải 1.
Dạng sóng truyền trên đường truyền vi dải Sóng điện từ lan truyền trên đường truyền vi dải mở rộng vào hai không gian khác nhau: không khí ở trên và điện môi ở dưới. Hai môi trường này không đồng nhất do có hằng số điện môi và tính chất khác nhau, nên đường truyền vi dải không hỗ trợ sóng TEM (điện từ trường ngang) thuần túy. Đó là bởi sóng TEM chỉ có các thành phần điện ngang và trường ngang (so với phương truyền sóng), vận tốc truyền sóng chỉ phụ thuộc vào các đặc tính của vật liệu như hằng số điện môi, độ từ thẩm và khả năng tích trữ điện trường. Tuy nhiên đường truyền vi dải nằm giữa hai môi trường có tính chất khác nhau, nên vận tốc truyền sóng không chỉ phụ thuộc vào các đặc tính của vật liệu chất nền mà còn phụ thuộc kích thước vật lí của đường vi dải [4].
Nhưng khi các thành phần ngang của điện từ trường chiếm ưu thế hơn hẳn các thành phần dọc, các thành phần dọc có thể được bỏ qua khi khảo sát. Lúc này, sóng lan truyền trên đường truyền gần như sóng TEM. Sóng trên đường truyền vi dải có tính chất như vậy, do đó lý thuyết về đường truyền TEM có thể áp dụng trên đường truyền vi dải. Hằng số điện môi hiệu dụng và trở kháng đặc trưng Cấu trúc vi dải bao gồm hai môi trường không đồng nhất với hai giá trị điện môi khác nhau, song sóng truyền trên đường truyền vi dải gần như sóng TEM được truyền trong môi trường đồng nhất, nên một tham số được gọi là hằng số điện môi hiệu dụng được định nghĩa, biểu diễn hằng số điện môi tổng quát của đường truyền vi dải.
Đặc tính truyền sóng của một đường truyền vi dải được mô tả bởi hai tham số là hằng số điện môi hiệu dụng 𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 và trở kháng đặc trưng 𝑍𝑍𝑐𝑐. Chúng được xác đinh bởi [4] 𝐶𝐶𝑑𝑑 𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 = 𝐶𝐶𝑎𝑎 PT 1.1 1 𝑍𝑍𝑐𝑐 = 𝑐𝑐 �𝐶𝐶𝑎𝑎 𝐶𝐶𝑑𝑑 trong đó 𝐶𝐶𝑑𝑑 là giá trị điện dung trên mỗi đơn vị chiều dài với tấm chất nền, 𝐶𝐶𝑎𝑎 là giá trị điện dung trên mỗi đơn vị chiều dài với “chất nền” không khí, và 𝑐𝑐 là vận tốc lan truyền sóng điện từ trong không gian tự do, có giá trị 2,98 × 108 𝑚𝑚/𝑠𝑠 hoặc 3 × 108 𝑚𝑚/𝑠𝑠. Với các đường truyền rất mỏng, có độ dày 𝑡𝑡 → 0, có hai trường hợp như sau [4] 𝑊𝑊/ℎ ≤ 1: 𝜀𝜀𝑟𝑟 + 1 𝜀𝜀𝑟𝑟 − 1 ℎ −0,5 𝑊𝑊 2 𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 = + ��1 + 12 � + 0,04 �1 − � � 2 2 𝑊𝑊 ℎ PT 1.2 𝜂𝜂 8ℎ 𝑊𝑊 𝑍𝑍𝑐𝑐 = 𝑙𝑙𝑙𝑙 � + 0,25 � 2𝜋𝜋�𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 𝑊𝑊 ℎ trong đó 𝜂𝜂 = 120𝜋𝜋 𝛺𝛺 là trở kháng sóng của không gian tự do. Bước sóng, hằng số lan truyền, vận tốc pha và độ dài điện Khi đã tính toán được hằng số điện môi hiệu dụng, bước sóng của sóng gần giống TEM trên đường truyền được cho bởi [4] 𝜆𝜆0 𝜆𝜆𝑔𝑔 = PT 1.4 �𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 với 𝜆𝜆0 là bước sóng của sóng có tần số 𝑓𝑓 lan truyền trong không gian tự do.
Để thuận tiện, khi 𝑓𝑓 có đơn vị gigahertz (GHz), bước sóng lan truyền sẽ được tính trực tiếp với đơn vị milimet (mm) theo PT 1.7 𝛽𝛽 �𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 với 𝑐𝑐 = 3 × 108 𝑚𝑚/𝑠𝑠 là vận tốc lan truyền của sóng điện từ trong không gian tự do. Độ dài điện 𝜃𝜃 được tính dựa trên chiều dài vật lí của đường truyền, cho bởi PT 1.8 do đó 𝜃𝜃 = 𝜋𝜋/2 khi 𝑙𝑙 = 𝜆𝜆𝑔𝑔 /4 và 𝜃𝜃 = 𝜋𝜋 khi 𝑙𝑙 = 𝜆𝜆𝑔𝑔 /2. Những đường truyền vi dải có độ dài như vậy còn được gọi là các đoạn đường truyền phần tư bước sóng, nửa bước sóng và đều có những ứng dụng quan trọng và phổ biến trong thiết kế bộ lọc vi dải. Tổng hợp 𝑾𝑾/𝒉𝒉 Biểu thức tính gần đúng của 𝑊𝑊/ℎ được đưa ra bởi Hammerstad [5] 4 Trường hợp 𝑊𝑊/ℎ ≤ 2: 𝑊𝑊 8𝑒𝑒𝑒𝑒𝑒𝑒(𝐴𝐴) PT 1.9 = ℎ 𝑒𝑒𝑒𝑒𝑒𝑒(2𝐴𝐴) − 2 trong đó 𝑍𝑍𝑐𝑐 𝜀𝜀𝑟𝑟 + 1 0,5 𝜀𝜀𝑟𝑟 − 1 0,11 𝐴𝐴 = � � + �0,23 + � 60 2 𝜀𝜀𝑟𝑟 + 1 𝜀𝜀𝑟𝑟 Trường hợp 𝑊𝑊/ℎ ≥ 2: 𝑊𝑊 2 𝜀𝜀𝑟𝑟 − 1 0,61 PT 1.
Ảnh hưởng của độ dày đường truyền dải Độ dày 𝑡𝑡 của đường truyền có ảnh hưởng tới trở kháng đặc trưng của đường truyền và hằng số điện môi hiệu dụng của tấm nền, biểu diễn bởi PT 1. Xét hai trường hợp [4]: 𝑊𝑊/ℎ ≤ 1: 𝜂𝜂 8 𝑊𝑊𝑒𝑒 (𝑡𝑡 ) 𝑍𝑍𝑐𝑐 (𝑡𝑡) = 𝑙𝑙𝑙𝑙 � + 0,25 � PT 1.14 4,6 �𝑊𝑊/ℎ Trong các biểu thức trên, 𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 là hằng số điện môi hiệu dụng với 𝑡𝑡 = 0. Có thể thấy rằng ảnh hưởng của độ dày đường truyền tới cả trở kháng đặc trưng và hằng số điện môi hiệu dụng là không đáng kể khi 𝑡𝑡/ℎ có giá trị rất nhỏ (điều này phổ biến trong thực tế). Tuy vậy ảnh hưởng của độ dày tới tổn hao đường truyền là đáng kể [4].
Độ phân tán trên đường truyền vi dải Khẳng định rằng có sự phân tán trên đường truyền vi dải. Cụ thể là: vận tốc pha không phải là một hằng số mà phụ thuộc vào tần số sóng lan truyền. Do đó, hằng số điện môi hiệu dụng là một hàm của tần số, kí hiệu bởi 𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 (𝑓𝑓). Biểu thức tính hằng số điện môi hiệu dụng tại Mục 1.2 dựa trên phân tích gần đúng của sóng TEM.
Đối với sự lan truyền của sóng điện từ tần số thấp, biểu thức này có thể được sử dụng để tính ra một giá trị gần đúng tương đối tốt. Để tính đến ảnh hưởng của sự phân tán, công thức tính 𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 (𝑓𝑓) được sử dụng như sau [4] 𝜀𝜀𝑟𝑟 − 𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 (𝑓𝑓) = 𝜀𝜀𝑟𝑟 − PT 1.19 𝑚𝑚0 = 1 + + 0,32 � � 1 + �𝑊𝑊/ℎ 1 + �𝑊𝑊/ℎ 1,4 0,45𝑓𝑓 𝑊𝑊 ⎧ �0,15 − 0,235 exp �− �� đối với ≤ 0,7 ⎪ 𝑊𝑊 𝑓𝑓50 ℎ 𝑚𝑚𝑐𝑐 = 1 + ℎ PT 1.20 ⎨ ⎪ ⎩ 1 đối với 𝑊𝑊/ℎ ≥ 0,7 6 với 𝑐𝑐 là tốc độ ánh sáng lan truyền trong không gian tự do. Mô hình phân tán chỉ ra rằng 𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 (𝑓𝑓) tăng cùng với tần số, và 𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 (𝑓𝑓) → 𝜀𝜀𝑟𝑟 khi 𝑓𝑓 → ∞. Tác động của sự phân tán tới trở kháng đặc trưng có thể ước chừng bởi [6] 𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 (𝑓𝑓) − 1 𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 𝑍𝑍𝑐𝑐 (𝑓𝑓) = 𝑍𝑍𝑐𝑐 � PT 1.21 𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 − 1 𝜀𝜀𝑟𝑟𝑟𝑟 (𝑓𝑓) trong đó 𝑍𝑍𝑐𝑐 là giá trị trở kháng đặc trưng tĩnh đã đề cập trong Mục 1.
Các tổn hao Các tổn hao trên đường truyền vi dải bao gồm suy hao trên đường dẫn, suy hao do điện môi và suy hao do bức xạ, trong khi suy hao từ trường chỉ xảy ra với những chất nền có từ tính.