Chương 1 trình bày khái quát về các hệ thống anten định hướng cao đang được sử dụng trong truyền thông điểm – điểm và giới thiệu khái quát anten thế hệ mới có độ lợi cao: anten EBG. Chương 2 tập trung đi sâu phân tích cấu trúc dải chắn điện từ EBG trên cơ sở các cấu trúc vật liệu tuần hoàn, những đặc tính đặc biệt của cấu trúc có thể ứng dụng để nâng cao hiệu quả của anten nguồn đặc biệt là độ lợi. Chương 3 trình bày mẫu thiết kế đề xuất một loại anten EBG đơn giản với việc sử dụng phần mềm mô phỏng khá hiệu quả là HFSS và 4NEC2. Do còn hạn chế về thời gian, vốn hiểu biết và điều kiện kỹ thuật hiện có, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô và các bạn để nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC HỆ THỐNG ANTEN ĐỘ LỢI CAO 1. Các hệ anten độ lợi cao trong thông tin điểm-điểm 1. Khái niệm chung Anten là một phần tử không thể thiếu được trong mọi hệ thống thông tin liên lạc vô tuyến. Hiểu một cách cơ bản nhất, nó là một thiệt bị dùng để chuyển đổi năng lượng điện áp cao tần đầu vào thành năng lượng sóng điện từ ( E, H ) truyền được trong không gian tự do.
Tùy thuộc vào ứng dụng trong thực tế, người ta phân anten ra làm nhiều loại dựa trên độ lợi (một số tài liệu gọi là độ tăng ích) của nó: anten vô hướng, anten có độ lợi thấp và anten độ lợi cao. Anten có độ lợi cao là loại anten có khả năng phát sóng tập trung vào một hướng nhất định và duy nhất. Hình 1-1 dưới đây mô tả đồ thị bức xạ (radiation pattern) dạng bút chì của một anten độ lợi cao điển hình. Hình 1-1: Đồ thị bức xạ của một anten độ lợi cao Người ta phân biệt anten có độ lợi cao thành nhiều loại tùy thuộc vào hình dạng hay nguyên tắc hoạt động của chúng.
Anten đầu tiên được kể đến là anten Parabol phân cực tròn được phát minh bởi Heinrich R. Hertz năm 1888, sau đó có thể kể đến anten Loa (Horn Antenna) năm 1894, anten Yagi năm 1928, anten Thấu kính (Lens Antenna), anten Mảng (Array Antenna)…[4] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 (a) (b) (c) Hình 1-2: Một số anten độ lợi cao (a) Anten Loa ; (b) Anten mảng; (c) Anten parabol 1. Các đặc tính quan trọng của anten độ lợi cao - Độ lợi của anten (Gain of antenna) Độ lợi của anten theo một hướng xác định là tỉ số của cường độ bức xạ trên cường độ bức xạ đo được của anten bức xạ vô hướng có cùng công suất. Đối với anten không có độ mất mát (hiệu suất 100%) thì độ lợi của anten chính là độ định hướng.
Độ lợi của anten là một thông số quan trọng để tính toán cự li thông tin. - Sự phân cực của anten (Polarization of antenna) Sóng điện từ được phát ra bởi anten có thể tạo ra những dạng khác nhau ảnh hưởng đến sự quảng bá. Các hình dạng này sẽ tùy thuộc vào sự phân cực của anten. Trong một hệ thống thu phát, anten phát và anten thu phải có cùng phân cực để mức thu đạt tốt nhất và tránh nhiễu.
Phân cực tròn được dùng trong trường hợp anten phát và anten phản xạ không có định hướng phân cực rõ ràng hoặc phân cực bị biến đổi trong quá trình truyền sóng. - Đồ thị bức xạ của anten (Radiation pattern) Đồ thị bức xạ của anten mô tả sự khác nhau về góc bức xạ ở một khoảng cách cố định từ anten. Nó thường được diễn tả bằng thuật ngữ “hướng” (directivity) hay “độ lợi” (gain) của anten. Anten thường có búp chính hay vùng bức xạ, chính là hướng có độ lợi lớn nhất, và búp phụ mà cụ thể hơn là búp bên hay búp sau tùy thuộc vào hướng của búp phụ so với búp chính.
Trong khái niệm đồ thị bức xạ của anten thì tỉ số “trước-sau” của anten sẽ so sánh độ lợi lớn nhất của anten trên búp chính với độ lợi lớn nhất trên búp sau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Búp phụ Búp chính HPBW HPBW Búp sau Búp bên Không Hình 1-3: Đồ thị bức xạ của một anten - Băng tần hoạt động của anten (Bandwidth of antenna) Băng tần hoạt động của anten là vùng tần số cho phép anten hoạt động đảm bảo dạng bức xạ và trở kháng đầu vào không bị thay đổi. Hiện nay, anten có độ lợi cao là phần tử không thể thiếu được trong các hệ thống truyền thông viễn thông như liên lạc vũ trụ hay truyền thông vệ tinh. Ngoài ra, nó còn được sử dụng nhiều trong các ứng dụng dân dụng và quân sự như anten truyền hình, radar dẫn đường, hệ định vị, thông tin di dộng… 1.
Anten Yagi (Yagi antenna) Anten Yagi hay còn gọi là anten Yagi-Uda (do 2 người Nhật là Hidetsugu Yagi và Shintaro Uda chế tạo vào năm 1926) được biết đến như là một anten định hướng cao được sử dụng trong truyền thông vô tuyến. Loại anten này thường được sử dụng cho mô hình điểm-điểm và đôi khi cũng dùng trong mô hình điểm- đa điểm. Anten Yagi-Uda được xây dựng bằng cách hình thành một chuỗi tuyến tính các phần tử là các anten dipole song song nhau. Mỗi phần tử có phân bố dòng riêng, đồ thị phương hướng của anten là tổ hợp của mỗi phần tử trong hệ (có thể tăng cường hoặc giảm bớt tùy theo phân bố dòng của mỗi phần tử).
[1] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Giá đỡ R DR D1 D2 D3 D4 Chấn tử dẫn xạ Chấn tử điều khiển (tích cực) Chấn tử phản xạ Hình 1-4: Cấu trúc anten Yagi Cấu trúc của một anten Yagi được minh họa tại hình 1-4, gồm các phần tử sau: - Một hay nhiều chấn tử phản xạ R nằm ở một phía của chấn tử tích cực. Chấn tử này sẽ hướng bức xạ ngược trở lại về phía chấn tử tích cực. - Một hoặc nhiều chấn tử dẫn xạ Di (i=1, 2, 3…) nằm ở phía ngược lại có tác dụng tập trung bức xạ về hướng đó. Khi tăng số chấn tử dẫn xạ, ta thu được độ tăng ích lớn hơn nhưng lợi điểm này giảm dần khi số lượng chấn tử dẫn xạ tăng lên như hình 1-5.
Điều này là do khi các chấn tử dẫn xạ kí sinh càng xa chấn tử tích cực thì dòng cảm ứng của chúng càng giảm và đóng góp của nó vào độ tăng ích cũng giảm. Hình 1-5: Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc độ lợi và số chấn tử LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Trở kháng vào của anten Yagi là một hàm theo trở kháng vào của chấn tử tích cực nhưng cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi các chấn tử ký sinh. Giá trị trở kháng vào theo lý thuyết của một anten 3 chấn tử là khoảng 25Ω. Tùy theo cấu hình anten, giá trị này biến thiên trong khoảng 20Ω đến 100Ω.
[1] Anten Yagi được dùng nhiều trong truyền hình, truyền thông điểm-điểm ở tần số dưới 1GHz. Anten Loa (Horn Antenna) Anten loa thuộc loại anten bức xạ mặt. Mặt bức xạ của anten là miệng loa. Phần từ cơ bản của anten là nguyên tố Huyghen, nghĩa là nguyên tố diện tích được kích thích bởi điện từ trường đồng pha.
Trường hợp đơn giản nhất của bức xạ mặt là bức xạ mặt từ miệng của một ống dẫn sóng chữ nhật hoặc tròn. Anten kiểu miệng ống dẫn sóng (gọi tắt là anten ống sóng) tạo ra sự chuyển đổi sóng điện từ giữa ống dẫn sóng và không gian tự do. Khi mở rộng kích thước miệng ống của anten ống sóng theo các phương án khác nhau tuỳ theo độ lợi, đồ thị bức xạ và trở kháng mong muốn ta sẽ nhận được các kiểu anten loa khác nhau. [2] Hình 1-6: Một số loại anten loa phổ biến (a) anten loa dẹt trong mặt phẳng H, (b) anten loa dẹt trong mặt phẳng E, (c) anten loa hình chóp Do độ lợi của anten loa hình chóp có thể tính chính xác từ kích thước vật lí nên nó thường được dùng làm anten chuẩn để đo độ lợi.
Các anten loa hình quạt là trường hợp đặc biệt của anten loa hình chóp. Ngoài các loại anten loa như trong hình, cũng có một số loại anten loa khác như anten loa hình nón, được sử dụng cho các ống dẫn sóng tròn. [2] Anten Loa được dùng nhiều trong các bộ phát đáp trong thông tin vệ tinh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Anten thấu kính (Lens Antenna) Anten thấu kính thuộc loại anten mặt. Mặt bức xạ của nó được kích thích bởi trường do một nguồn sóng sơ cấp đưa tới. Nếu thấu kính được cấu tạo để mặt bức xạ của thấu kính được kích thích đồng pha thì sóng bức xạ từ bề mặt là sóng phẳng. Trong trường hợp anten thu thì quá trình biến đổi mặt sóng được diễn ra ngược lại, nghĩa là thấu kính sẽ biến đổi sóng phẳng thành sóng cầu hội tụ tại tiêu điểm.
Thấu kính như vậy gọi là thấu kính hội tụ, được dùng để thiết lập những anten có độ thị phương hướng hẹp. Ngoài các thấu kính hội tụ còn có các thấu kính có hình dạng phức tạp hơn, cho phép biến đổi sóng sơ cấp để tạo ra ở mặt bức xạ một qui luật phân bố trường cho trước, ứng với việc thiết lập đồ thị phương hướng đặc biệt. Ta gọi loại thấu kính này là thấu kính đặc biệt. Trong thực tế loại thấu kính hội tụ được sử dụng rộng rãi nhất, mỗi anten thấu kính gồm hai phần chính là thấu kính và bộ chiếu xạ.
Tùy theo thấu kính là loại đối xứng trục hay hình trụ mà bộ chiếu xạ có hình dạng thích hợp để tạo thành sóng sơ cấp đưa tới thấu kính. Việc tạo thành chùm tia song song ở mặt ra của thấu kính có thể so sự khúc xạ sóng tại một mặt thấu kính hai tại cả hai mặt (tùy theo từng kết cấu cụ thể). Trong trường hợp đầu thấu kính được gọi là thấu kính một mặt, trường hợp sau gọi là thấu kính hai mặt. Theo quan điểm quang hình, điều kiện hội tụ có thể được thỏa mãn bằng hai cách: - Tăng độ dài quang học của tia đi qua tâm so với các tia ở ngoài.
Trong trường hợp này ta gọi thấu kính là thấu kính chậm; - Giảm độ dài quang học của các tia ở ngoài so với các tia đi qua tâm thấu kính. Trong trường hợp này ta gọi thấu kính là thấu kính nhanh.