Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của toà án nhân dân theo pháp luật tố tụng hành chính việt nam

Bài viết phân tích thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của tòa án nhân dân theo pháp luật Việt Nam.

Chuyên ngành

Luật Hành Chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

84
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH KỶ LUẬT BUỘC THÔI VIỆC CÔNG CHỨC CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN

1.1. Những vấn đề lý luận về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Toà án nhân dân

1.2. Khái niệm thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Tòa án nhân dân

1.3. Đặc điểm về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Toà án nhân dân

1.4. Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Toà án nhân dân

1.5. Nội dung thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Tòa án nhân dân

1.6. Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức ở một số quốc gia trên thế giới

1.7. Quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức thuộc thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án

1.8. Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Tòa án theo cấp và theo lãnh thổ

1.9. Thẩm quyền của Toà án đối với khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức

1.10. Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Tòa án nhân dân theo pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam

1.11. Quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức thuộc thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án nhân dân

1.12. Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Toà án nhân dân theo cấp và theo lãnh thổ

1.13. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử sơ thẩm trong giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức

1.14. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH KỶ LUẬT BUỘC THÔI VIỆC CÔNG CHỨC CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

2.1. Thực tiễn thực hiện quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Tòa án nhân dân

2.2. Thực tiễn thực hiện quy định về quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức thuộc thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án nhân dân

2.3. Thực tiễn thực hiện quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Toà án theo cấp và theo lãnh thổ

2.4. Thực tiễn thực hiện quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử sơ thẩm đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức

2.5. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Toà án nhân dân

2.6. Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Toà án

2.7. Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hành chính về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Toà án

2.8. Một số giải pháp khác

2.9. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tìm hiểu về Thẩm Quyền Giải Quyết Khiếu Kiện tại Tòa Án

Theo Hiến pháp năm 2013, Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Theo đó, một trong những thẩm quyền của Tòa án trong hệ thống tư pháp có thể kể đến là thẩm quyền xét xử vụ án hành chính (VAHC). Việc đặt ra vấn đề xem xét các quyết định của cơ quan hành chính (CQHC) xuất phát từ sự phân công, kiểm soát giữa các nhánh quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước. Do đó, việc xác định thẩm quyền xét xử VAHC của Tòa án có vai trò quan trọng trong việc xác định thẩm quyền, quyền hạn cụ thể của Tòa án khi thụ lý, xem xét, giải quyết các khiếu kiện hành chính của tổ chức, cá nhân. Đồng thời là cơ sở để xác định ranh giới giữa chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động quyền tư pháp, góp phần làm rõ nét và cụ thể sự phân công thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan trong tổ chức bộ máy nhà nước.

1.1. Định nghĩa về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện

Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức là một trong những thẩm quyền của Tòa án trong việc xét xử VAHC. Việc xác định thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định quyền hạn, nhiệm vụ của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Có thể nói, “thẩm quyền” là một trong những khái niệm quan trọng, là trung tâm của khoa học pháp lý, không có một thuật ngữ nào được sử dụng phổ biến trong pháp luật như thuật ngữ thẩm quyền. Theo đó, thẩm quyền của mỗi tổ chức, cá nhân được pháp luật trao quyền cho từng chủ thể là khác nhau, tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực hoạt động, ngành hoạt động mà các chủ thể có quyền hạn nhất định và tuỳ vào đó mà thẩm quyền cũng sẽ được thể hiện dưới nhiều cách thức khác nhau.

1.2. Thẩm quyền theo từ điển Hán Việt và Tiếng Việt

Theo từ điển Hán Việt, thẩm quyền có nghĩa là “được quyền xét đoán định đoạt một việc gì đó”. Còn theo từ điển tiếng Việt, thẩm quyền có nghĩa là “quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật”. Thuật ngữ thẩm quyền theo cách giải thích của một số tác giả nước ta hiện nay có phần tương đồng và có những điểm khác biệt nhất định so với các thuật ngữ nước ngoài. Theo từ điển “Black’s Law Dictionary” người ta dùng thuật ngữ “authority” hoặc “competence” dùng để chỉ thẩm quyền nói chung của tất cả các cơ quan, theo đó thuật ngữ được sử dụng trên được hiểu là quyền hạn, quyền được phép hành động hoặc được ủy quyền cho người đại diện được phép thực hiện hay khả năng làm một điều gì đó cơ bản và t...

1.3. So sánh thẩm quyền với các thuật ngữ nước ngoài

Cần so sánh thuật ngữ thẩm quyền ở Việt Nam với các thuật ngữ tương ứng trong pháp luật quốc tế, ví dụ như "jurisdiction" trong tiếng Anh hoặc các thuật ngữ tương đương trong tiếng Pháp, Đức, để làm rõ sự khác biệt và tương đồng. Điều này giúp hiểu rõ hơn về phạm vi và ý nghĩa của thẩm quyền trong bối cảnh toàn cầu, cũng như cách các quốc gia khác nhau tiếp cận vấn đề này. So sánh này có thể được thực hiện dựa trên định nghĩa, phạm vi, và cách thức thực thi thẩm quyền trong các hệ thống pháp luật khác nhau.

II. Quyết Định Kỷ Luật Buộc Thôi Việc Thẩm quyền Tòa Án

Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc (QĐKLBTV) công chức của Tòa án là một nội dung quan trọng trong pháp luật tố tụng hành chính (TTHC). Pháp luật quy định rõ những loại quyết định kỷ luật nào thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án. Điều này giúp đảm bảo quyền lợi của công chức bị kỷ luật, đồng thời tạo cơ chế kiểm soát đối với các quyết định hành chính. Việc xác định đúng thẩm quyền là tiền đề để quá trình giải quyết vụ án diễn ra đúng pháp luật.

2.1. Phạm vi quyết định kỷ luật buộc thôi việc thuộc thẩm quyền Tòa Án

Xác định phạm vi các loại QĐKLBTV mà Tòa án có thẩm quyền giải quyết là yếu tố then chốt. Việc này giúp phân biệt rõ ràng giữa thẩm quyền của Tòa án và các cơ quan, tổ chức khác. Ví dụ, cần làm rõ những trường hợp QĐKLBTV nào liên quan đến công chức thuộc Tòa án thì do Tòa án nào giải quyết, và những trường hợp nào liên quan đến công chức của các cơ quan khác.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thẩm quyền xét xử quyết định kỷ luật

Cần xác định rõ các yếu tố như cấp bậc công chức, vị trí công tác, cơ quan ra quyết định kỷ luật, địa bàn nơi công chức làm việc có ảnh hưởng đến thẩm quyền xét xử của Tòa án hay không. Ví dụ, QĐKLBTV đối với công chức cấp cao có thể do Tòa án cấp cao hơn giải quyết so với công chức cấp thấp hơn.

2.3. Quy trình xác định thẩm quyền giải quyết khiếu kiện

Cần quy định rõ quy trình xác định thẩm quyền giải quyết khiếu kiện QĐKLBTV, bao gồm các bước như xem xét đơn khởi kiện, xác minh thông tin, đối chiếu với quy định của pháp luật. Điều này giúp đảm bảo tính minh bạch và khách quan trong quá trình xác định thẩm quyền.

III. Hướng dẫn xác định Thẩm Quyền Giải Quyết theo Cấp và Lãnh Thổ

Luật TTHC quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện theo cấp hành chính và theo địa hạt lãnh thổ. Việc xác định đúng thẩm quyền theo cấp và lãnh thổ có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo quá trình tố tụng diễn ra đúng quy định. Xác định sai thẩm quyền có thể dẫn đến việc vụ án bị trả lại, kéo dài thời gian giải quyết và gây thiệt hại cho các bên liên quan.

3.1. Thẩm quyền theo cấp hành chính sơ thẩm phúc thẩm

Phân tích rõ quy định về thẩm quyền theo cấp hành chính, ví dụ Tòa án cấp huyện giải quyết sơ thẩm những vụ việc nào, Tòa án cấp tỉnh giải quyết những vụ việc nào. Đồng thời, cần nêu rõ quy trình phúc thẩm trong trường hợp có kháng cáo hoặc kháng nghị.

3.2. Thẩm quyền theo lãnh thổ nơi xảy ra vi phạm nơi làm việc

Giải thích rõ quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ, ví dụ Tòa án nơi cơ quan ra quyết định kỷ luật đóng trụ sở hay Tòa án nơi công chức làm việc có thẩm quyền giải quyết. Cần làm rõ trường hợp có sự khác nhau giữa nơi cơ quan ra quyết định và nơi công chức làm việc thì Tòa án nào có thẩm quyền.

3.3. Xử lý trường hợp tranh chấp thẩm quyền giải quyết khiếu kiện

Cần quy định rõ quy trình giải quyết tranh chấp thẩm quyền giữa các Tòa án. Ví dụ, khi có hai Tòa án cùng cho rằng mình có thẩm quyền giải quyết vụ án thì Tòa án cấp trên sẽ quyết định Tòa án nào có thẩm quyền.

IV. Trình Tự Giải Quyết Khiếu Kiện tại Tòa án Hướng dẫn chi tiết

Việc giải quyết khiếu kiện QĐKLBTV tại Tòa án tuân theo một trình tự nhất định, bao gồm các giai đoạn: thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (nếu có). Mỗi giai đoạn có những quy định riêng về thời gian, thủ tục, và trách nhiệm của các bên liên quan. Hiểu rõ trình tự này giúp công chức bị kỷ luật bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả.

4.1. Thủ tục thụ lý vụ án khi khiếu kiện quyết định kỷ luật

Hướng dẫn chi tiết về các bước nộp đơn khởi kiện, các loại giấy tờ cần thiết, và thời hạn nộp đơn. Cần nêu rõ Tòa án sẽ xem xét đơn khởi kiện trong thời hạn bao lâu và thông báo cho người khởi kiện về việc có thụ lý vụ án hay không.

4.2. Chuẩn bị xét xử thu thập chứng cứ hòa giải

Giải thích rõ về các hoạt động thu thập chứng cứ, lấy lời khai, và tổ chức hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Cần nêu rõ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong giai đoạn này.

4.3. Phiên tòa sơ thẩm và thủ tục phúc thẩm nếu có

Mô tả chi tiết về trình tự diễn ra phiên tòa sơ thẩm, bao gồm các bước như khai mạc phiên tòa, trình bày chứng cứ, tranh luận, và tuyên án. Đồng thời, cần nêu rõ thủ tục phúc thẩm trong trường hợp có kháng cáo hoặc kháng nghị.

V. Các Quy Định Về Kỷ Luật Công Chức và Thẩm Quyền Giải Quyết

Để giải quyết khiếu kiện QĐKLBTV một cách đúng đắn, cần nắm vững các quy định pháp luật về kỷ luật công chức. Các quy định này bao gồm các hình thức kỷ luật, căn cứ áp dụng kỷ luật, và quy trình xử lý kỷ luật. Việc nắm vững các quy định này giúp Tòa án đánh giá tính hợp pháp và hợp lý của QĐKLBTV.

5.1. Các hình thức kỷ luật đối với công chức theo quy định

Liệt kê và giải thích rõ các hình thức kỷ luật đối với công chức, bao gồm khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, và buộc thôi việc. Cần nêu rõ điều kiện áp dụng của từng hình thức kỷ luật.

5.2. Căn cứ áp dụng kỷ luật buộc thôi việc theo pháp luật

Liệt kê và giải thích rõ các căn cứ để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc, ví dụ như vi phạm pháp luật nghiêm trọng, vi phạm đạo đức công vụ, hoặc không hoàn thành nhiệm vụ được giao. Cần nêu rõ mức độ vi phạm cần thiết để áp dụng hình thức kỷ luật này.

5.3. Quy trình xử lý kỷ luật và quyền của công chức bị kỷ luật

Mô tả chi tiết quy trình xử lý kỷ luật đối với công chức, bao gồm các bước như kiểm điểm, xác minh thông tin, thành lập hội đồng kỷ luật, và ra quyết định kỷ luật. Đồng thời, cần nêu rõ quyền của công chức bị kỷ luật, ví dụ như quyền được giải trình, quyền được khiếu nại, và quyền được khởi kiện ra Tòa án.

VI. Thảo luận về Thực Tiễn Giải Quyết Khiếu Kiện và Giải Pháp

Thực tiễn giải quyết khiếu kiện QĐKLBTV tại Tòa án còn nhiều vấn đề cần được cải thiện. Một số hạn chế bao gồm: thời gian giải quyết kéo dài, chất lượng xét xử chưa cao, và sự phối hợp giữa Tòa án và các cơ quan liên quan còn chưa chặt chẽ. Để nâng cao hiệu quả giải quyết loại vụ án này, cần có những giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện pháp luật đến nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ.

6.1. Đánh giá về thời gian giải quyết khiếu kiện

Phân tích thực trạng về thời gian giải quyết khiếu kiện QĐKLBTV tại Tòa án, so sánh với thời gian quy định của pháp luật, và tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian. Đồng thời, cần đề xuất giải pháp để rút ngắn thời gian giải quyết.

6.2. Chất lượng xét xử và phương pháp cải thiện chất lượng

Đánh giá chất lượng xét xử các vụ án khiếu kiện QĐKLBTV, ví dụ như tỷ lệ án bị hủy, sửa, và phân tích nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Đồng thời, cần đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng xét xử.

6.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực cán bộ

Đề xuất các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện QĐKLBTV, ví dụ như quy định rõ hơn về phạm vi thẩm quyền, quy trình giải quyết, và trách nhiệm của các bên liên quan. Đồng thời, cần đề xuất giải pháp để nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ Tòa án, ví dụ như tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn.

24/05/2025
Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của toà án nhân dân theo pháp luật tố tụng hành chính việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH KỶ LUẬT BUỘC THÔI VIỆC CÔNG CHỨC CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN 1. Những vấn đề lý luận về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Toà án nhân dân 1. Khái niệm thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Tòa án nhân dân Theo Hiến pháp năm 2013, Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân1. Theo đó, một trong những thẩm quyền của Toà án trong hệ thống tư pháp có thể kể đến là thẩm quyền xét xử VAHC.

Việc đặt ra vấn đề xem xét các quyết định của CQHC xuất phát từ sự phân công, kiểm soát giữa các nhánh quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước. Do đó, việc xác định thẩm quyền xét xử VAHC của Toà án có vai trò quan trọng trong việc xác định thẩm quyền, quyền hạn cụ thể của Toà án khi thụ lý, xem xét, giải quyết các khiếu kiện hành chính của tổ chức, cá nhân. Đồng thời là cơ sở để xác định ranh giới giữa chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động quyền tư pháp, góp phần làm rõ nét và cụ thể sự phân công thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan trong tổ chức bộ máy nhà nước2. Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện QĐKLBTV công chức là một trong những thẩm quyền của Toà án trong việc xét xử VAHC.

Việc xác định thẩm quyền giải quyết khiếu kiện QĐKLBTV công chức sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định quyền hạn, nhiệm vụ của Toà án trong quá trình giải quyết vụ án. Có thể nói, “thẩm quyền” là một trong những khái niệm quan trọng, là trung tâm của khoa học pháp lý, không có một thuật ngữ nào được sử dụng phổ biến trong pháp luật như thuật ngữ thẩm quyền3. Theo đó, thẩm quyền của mỗi tổ chức, cá nhân được pháp luật trao quyền cho từng chủ thể là khác nhau, tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực hoạt động, ngành hoạt động mà các chủ thể có quyền hạn nhất định và tuỳ vào đó mà thẩm quyền cũng sẽ được thể hiện dưới nhiều cách thức khác nhau. 1 Khoản 1 và khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013.

2 Nguyễn Thanh Bình (2003), Thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 3 Nguyễn Cửu Việt (2005), “Cải cách hành chính: về khái niệm thẩm quyền”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (số 08), tr. 7 Theo từ điển Hán Việt, thẩm quyền có nghĩa là “được quyền xét đoán định đoạt một việc gì đó”4. Còn theo từ điển tiếng Việt, thẩm quyền có nghĩa là “quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật”5.

Thuật ngữ thẩm quyền theo cách giải thích của một số tác giả nước ta hiện nay có phần tương đồng và có những điểm khác biệt nhất định so với các thuật ngữ nước ngoài. Theo từ điển “Black’s Law Dictionary” người ta dùng thuật ngữ “authority” hoặc “competence” dùng để chỉ thẩm quyền nói chung của tất cả các cơ quan, theo đó thuật ngữ được sử dụng trên được hiểu là quyền hạn, quyền được phép hành động hoặc được uỷ quyền cho người đại diện được phép thực hiện hay khả năng làm một điều gì đó cơ bản và tối thiểu của cơ quan công quyền (thường là cơ quan hành chính) để xem xét và giải quyết việc gì đó theo pháp luật6. Bên cạnh đó, thuật ngữ “jurisdiction” được sử dụng để chỉ thẩm quyền hoặc quyền tài phán của Tòa án (cơ quan tư pháp) trong phạm vi lãnh thổ nhất định7. Tương tự, thuật ngữ pháp lý thẩm quyền trong tiếng pháp, “autorisé” có nghĩa là có thẩm quyền8, “juridiction” mang nghĩa là thẩm quyền xét xử, phạm vi xét xử của toà án9.

Trong từ điển pháp luật của Nhật Bản có thuật ngữ “Kengen” cũng dùng để chỉ thẩm quyền. Trong đó “Ken” là quyền để xem xét, giải quyết vụ việc; “Gen” là sự giới hạn, có nghĩa là sự giới hạn quyền lực được trao để xem xét, giải quyết một vụ việc nào đó theo quy định của pháp luật; thuật ngữ “Saibanken” được sử dụng để chỉ thẩm quyền của toà án và “Kankatsu ken” để chỉ thẩm quyền quản lý hành chính10. Như vậy, có thể nhận thấy rằng, mặc dù cách sử dụng thuật ngữ ở các quốc gia có phần khác biệt nhưng nhìn chung nội hàm thuật ngữ thẩm quyền mà các quốc gia sử dụng đều hướng đến khả năng thực hiện quyền xem xét, giải quyết vụ việc của cơ quan công quyền. Trên phương diện pháp lý, khái niệm thẩm quyền được nhiều tác giả định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể như sau: thẩm quyền có nghĩa là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định11.

Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Cửu Việt: “Thẩm quyền là một khái niệm tập hợp, là tổng hợp những quyền và nghĩa vụ chung để thực hiện những chức năng nhất định và quyền hạn cụ thể để thực hiện 4 Bửu Kế (1999), Từ điển Hán – Việt từ nguyên, Nxb Thuận Hoá, tr. 5 Hoàng Phê (chủ biên) (2006), Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng, tr. Garner (2001), Black’s Law Dictionary, Nxb Oxford, tr. Garner (2001), Black’s Law Dictionary, Nxb Oxford, tr.

8 Trung tâm khoa học và xã hội và nhân văn quốc gia – Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Pháp – Việt, Nxb Tp. 9 Trung tâm khoa học và xã hội và nhân văn quốc gia – Viện Ngôn ngữ học, tlđd (8), tr. 10 English- Japanese Dictionary and handbook (1995), Nxb Cassell, tr. 11 Nguyễn Hữu Quỳnh (1999), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.

8 những quyền và nghĩa vụ chung đó”12. Theo Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: “Thẩm quyền là khả năng của chủ thể trong việc xem xét và giải quyết hay định đoạt công việc nào đó trên cơ sở các chuẩn mực pháp luật đã định trước”. Nói một cách khái quát, thẩm quyền là quyền hạn pháp luật quy định cho cơ quan công quyền và công chức giữ chức vụ nhà nước nhất định”13. Theo tác giả Nguyễn Văn Huyên, “thẩm quyền là tổng hợp tất cả các quyền mà pháp luật quy định cho một tổ chức hoặc một cán bộ, công chức nhà nước được thực hiện công việc trong các lĩnh vực và phạm vi nhất định”14.

Một quan điểm của tác giả khác về khái niệm của thẩm quyền như sau: “thẩm quyền là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho một cơ quan, tổ chức hoặc một công chức được xem xét giải quyết những công việc cụ thể trong lĩnh vực và phạm vi nhất định nhằm thực hiện chức năng của bộ máy nhà nước”15. Như vậy, qua những cách giải thích về thuật ngữ thẩm quyền của các công trình khoa học trên, tác giả thấy rằng khái niệm về thẩm quyền hiện nay được phân chia thành hai quan điểm: (i) Một là, khái niệm thẩm quyền được hiểu có nội dung là “quyền”; (ii) Hai là, khái niệm thẩm quyền được hiểu dưới nội dung là “quyền và nghĩa vụ” (hay còn được gọi là quyền và trách nhiệm). Theo quan điểm của tác giả, tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, bởi lẽ “quyền” là một thuật ngữ pháp lý có thể được hiểu rằng khi một cơ quan, chủ thể có thẩm quyền được pháp luật trao quyền thực hiện công vụ, nhiệm vụ thì họ sẽ có quyền quyết định, giải quyết một vấn đề cụ thể và quyền quyết định này được giới hạn trong phạm vi, lĩnh vực nhất định – đó được gọi là quyền hạn. Vì vậy, có thể hiểu rằng nội hàm của nội dung “quyền” được hiểu một cách khái quát là quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

Bên cạnh thực hiện những quyền hạn đó chủ thể có thẩm quyền phải thực hiện những yêu cầu mà pháp luật đề ra, đây được xem là nghĩa vụ mà họ phải thực hiện. Từ những lập luận trên, tác giả khái quát hoá về khái niệm thẩm quyền như sau: “Thẩm quyền là quyền và nghĩa vụ của một chủ thể được pháp luật trao quyền, cho phép thực hiện các chức năng, quyền hạn nhất định theo quy định của pháp luật”. Thẩm quyền của Toà án là một trong những thẩm quyền riêng biệt. Theo Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định TAND là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp.

12 Nguyễn Cửu Việt, Tập bài giảng những vấn đề cơ bản về khoa học lý luận quản lý nhà nước, tr. 13 Hoàng Văn Sao, Nguyễn Phúc Thành (đồng chủ biên) (2014), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Đại học Luật Hà Nội, tr. 14 Nguyễn Văn Huyên (2003), Thẩm quyền của Tòa án các cấp theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 15 Lê Thị Hà (2005), Phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Toà án ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.

9 Theo quy định trên, có thể thấy thẩm quyền của Toà án là chức năng chuyên biệt, khác với chức năng của những cơ quan khác. Theo quan điểm của một vài tác giả khoa học cho rằng: “Thẩm quyền của Toà án là quyền xem xét giải quyết các vụ việc và quyền ra các quyết định giải quyết vụ án hành chính”16. Theo tác giả Nguyễn Đức Mai: “Thẩm quyền của Toà án là một thể thống nhất bao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau đó là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung. Thẩm quyền về hình thức được thể hiện ở quyền hạn xem xét và phạm vi xem xét của Toà án (thẩm quyền xét xử và phạm vi xét xử), còn thẩm quyền về nội dung thể hiện ở quyền hạn giải quyết, quyết định của Toà án đối với những vấn đề đã được xem xét”17.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thẩm Quyền Giải Quyết Khiếu Kiện Quyết Định Kỷ Luật Buộc Thôi Việc Công Chức Tại Tòa Án Nhân Dân" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các khiếu nại liên quan đến quyết định kỷ luật đối với công chức. Tài liệu này không chỉ nêu rõ các quy định pháp lý mà còn phân tích các trường hợp thực tiễn, giúp người đọc hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan trong quá trình giải quyết khiếu nại.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính của viện kiểm sát nhân dân tỉnh phú thọ, nơi trình bày các nguyên tắc kiểm sát trong tố tụng hành chính. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ vai trò của luật sư trong tố tụng hành chính từ thực tiễn tỉnh đăk lăk sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của luật sư trong các vụ án hành chính. Cuối cùng, tài liệu Luận án hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về nhiệm vụ và quyền hạn của viện kiểm sát trong lĩnh vực này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quy trình và thẩm quyền trong tố tụng hành chính.