Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định định hướng: "Mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính. Đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Tòa án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án". Trong hệ thống các quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc (QĐKLBTV) công chức là quyết định có mức độ chế tài nghiêm khắc nhất, tác động trực tiếp đến việc làm, chức vụ, uy tín và quyền lợi căn bản của người làm việc trong bộ máy công quyền.
Từ Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, QĐKLBTV công chức đã được ghi nhận là một trong những đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử hành chính (XXHC) của Tòa án nhân dân (TAND). Tinh thần này tiếp tục được kế thừa và hoàn thiện trong Luật Tố tụng hành chính (TTHC) năm 2010 và Luật TTHC năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Tuy nhiên, thực tiễn xét xử giai đoạn vừa qua cho thấy chất lượng giải quyết một số vụ án khiếu kiện QĐKLBTV chưa cao; các quy định về thẩm quyền thụ lý theo cấp, theo loại việc và thẩm quyền của Hội đồng xét xử (HĐXX) còn tồn tại điểm thiếu thống nhất; trình độ nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ tiến hành tố tụng còn hạn chế dẫn đến xác định sai thẩm quyền hoặc áp dụng sai tư cách đương sự. Đáng chú ý, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp, chuyên sâu và toàn diện về cơ chế thẩm quyền này dưới góc độ Luật TTHC năm 2015.
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện QĐKLBTV công chức của TAND theo pháp luật TTHC Việt Nam, đồng thời đối chiếu với quy định của một số quốc gia trên thế giới.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện thẩm quyền của Tòa án các cấp qua các bản án, quyết định thực tế và số liệu thống kê xét xử, từ đó chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật TTHC và nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử đối với loại khiếu kiện này.
- Đối tượng nghiên cứu: Thẩm quyền của TAND đối với khiếu kiện QĐKLBTV công chức trên cả bình diện lý luận, quy định pháp luật thực định và thực tiễn xét xử tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Tập trung vào 03 khía cạnh trọng tâm: (1) QĐKLBTV công chức thuộc thẩm quyền XXHC của Tòa án; (2) Thẩm quyền theo cấp và theo lãnh thổ của Tòa án; (3) Thẩm quyền quyết định của HĐXX sơ thẩm đối với khiếu kiện QĐKLBTV công chức.
- Văn bản quy phạm pháp luật: Trọng tâm là Luật TTHC năm 2015, có so sánh với Luật TTHC năm 2010, Pháp lệnh năm 1996, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
- Pháp luật quốc tế: Khảo sát quy định của Trung Quốc, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức và Estonia.
- Dữ liệu thực tiễn: Báo cáo tổng kết công tác xét xử của ngành Tòa án và các bản án, quyết định giải quyết khiếu kiện QĐKLBTV công chức được công bố trên Cổng thông tin điện tử của TAND tối cao giai đoạn 2017 – 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước, quyền tư pháp và bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Điều 102 Hiến pháp năm 2013. Tác giả tiếp thu các công trình nghiên cứu chuyên khảo và bài báo khoa học tiêu biểu: công trình Phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính ở Việt Nam (Nguyễn Mạnh Hùng, 2015), luận án Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam (Nguyễn Thị Hà, 2017), cùng các nghiên cứu của Nguyễn Cửu Việt (2005), Trần Mạnh Hùng (2011), Trương Văn Tùng (2016), Nguyễn Thanh Hải (2022).
Khóa luận sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:
- Phương pháp luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Quán triệt các quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Phương pháp phân tích: Là phương pháp chủ đạo, xuyên suốt dùng để làm rõ nội hàm khái niệm thẩm quyền, giải mã các điều khoản của Luật TTHC năm 2015 và mổ xẻ lập luận trong các bản án thực tế.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu các quy định của Luật TTHC năm 2015 với Luật TTHC năm 2010, Pháp lệnh năm 1996; so sánh pháp luật tố tụng hành chính của Việt Nam với các hệ thống tư pháp nước ngoài (Trung Quốc, Pháp, Đức, Estonia).
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: Tập hợp, phân loại số liệu giải quyết các vụ án hành chính từ Báo cáo tổng kết của TAND tối cao và các bản án thực tiễn trên Cổng thông tin điện tử TAND tối cao để đưa ra nhận định khách quan về thực trạng xét xử.
- Phương pháp lịch sử: Đánh giá sự phát triển của các quan điểm lập pháp về thẩm quyền XXHC qua các thời kỳ phát triển của nền tư pháp Việt Nam.
Nguồn dữ liệu bao gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam; Báo cáo tổng kết công tác của ngành Tòa án giai đoạn 2017 – 2022; Dữ liệu bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm trên Cổng thông tin điện tử của TAND tối cao từ năm 2017 đến năm 2023.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Toà án nhân dân
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và khuôn khổ pháp lý thực định:
- Khái niệm và đặc điểm thẩm quyền: Tác giả định nghĩa thẩm quyền giải quyết khiếu kiện QĐKLBTV công chức là "quyền hạn, trách nhiệm của Tòa án được tiến hành xem xét, đánh giá và đưa ra phán quyết nhằm giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính". Bốn đặc điểm cốt lõi bao gồm: (1) Được xác định trên cơ sở chức năng XXHC của Tòa án; (2) Được thực hiện trực tiếp thông qua người tiến hành tố tụng; (3) Được thực hiện theo thủ tục tố tụng hành chính; (4) Thể hiện sự giới hạn quyền hạn của Tòa án được phép thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án.
- Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền: Phân tích ý nghĩa trên 03 phương diện: Giúp Tòa án thụ lý đúng vụ việc, tránh hủy/đình chỉ án; giúp công chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp, tránh hết thời hiệu khởi kiện; giúp nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính và thanh lọc bộ máy nhà nước.
- Nội dung thẩm quyền theo Luật TTHC năm 2015:
- Xác định đối tượng khởi kiện: Áp dụng phương pháp định lượng (liệt kê tại Điều 30) kết hợp loại trừ. Mặc dù các quyết định nội bộ bị loại trừ, nhưng QĐKLBTV đối với công chức từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống được thụ lý vì quyết định này làm chấm dứt tư cách công chức, không còn là quan hệ nội bộ thuần túy.
- Phân định theo cấp và lãnh thổ: Phân định thẩm quyền sơ thẩm giữa TAND cấp huyện (khoản 2 Điều 31) và TAND cấp tỉnh (khoản 2 Điều 32) dựa trên cấp quản lý của người đứng đầu cơ quan ban hành quyết định; thẩm quyền theo lãnh thổ căn cứ vào nơi cơ quan đóng trụ sở hoặc nơi làm việc của công chức.
- Kinh nghiệm quốc tế: Trung Quốc thành lập Tòa hành chính từ năm 1987, ban hành Luật TTHC năm 1990 liệt kê 14 nhóm việc; Pháp, Đức và Estonia đều có cơ chế tài phán hành chính xem xét các quyết định kỷ luật công chức.
- Thẩm quyền của HĐXX sơ thẩm (Điều 193 Luật TTHC năm 2015): Tòa án chỉ xem xét tính hợp pháp (thẩm quyền, nội dung, trình tự thủ tục, thời hạn), không xem xét tính hợp lý của quyết định. HĐXX có 04 thẩm quyền cụ thể: Bác yêu cầu khởi kiện; Chấp nhận yêu cầu, tuyên hủy QĐKLBTV trái pháp luật và buộc người đứng đầu cơ quan thực hiện nhiệm vụ/công vụ; Buộc bồi thường thiệt hại và khôi phục quyền lợi theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cán bộ, công chức sai phạm.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Toà án nhân dân theo pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện
Chương 2 tập trung phân tích số liệu thực tế và các sai sót điển hình trong hoạt động xét xử:
- Thực trạng số liệu xét xử: Số lượng án hành chính toàn ngành tăng từ 7.922 vụ (năm 2017) lên 11.746 vụ (năm 2022). Tỷ lệ án hành chính bị hủy năm 2017 là 4,09% (chủ quan 3,43%), bị sửa là 3,78% (chủ quan 3,34%); năm 2022 tỷ lệ hủy giảm còn 3,8% (chủ quan 2,71%). Án hành chính về QĐKLBTV chiếm số lượng khá khiêm tốn: Khảo sát trên Cổng thông tin điện tử TAND tối cao giai đoạn 2017 – 2023 chỉ có 12 vụ án (TAND cấp huyện thụ lý 06 vụ, TAND cấp tỉnh thụ lý 11 vụ tính cả các cấp xét xử).
- Phân tích các vụ việc thực tiễn tiêu biểu:
- Áp dụng đúng thẩm quyền, hủy quyết định trái luật: Bản án số 184/2019/HC-ST ngày 05/3/2019 của TAND TP.HCM thụ lý vụ ông Dương Văn N (công chức Địa chính – Nông nghiệp – Xây dựng và Môi trường) kiện Chủ tịch UBND huyện D. HĐXX đã tuyên hủy Quyết định số 2557/QĐ-UBND do vi phạm nghiêm trọng trình tự tổ chức cuộc họp Hội đồng kỷ luật và trình tự ban hành văn bản.
- Xác định sai đối tượng khởi kiện (nhầm lẫn giữa công chức và viên chức): Vụ án ông Phan Hoàng X (giáo viên Trường Tiểu học K, tỉnh Sóc Trăng) bị Chủ tịch UBND huyện C kỷ luật buộc thôi việc theo Nghị định 27/2012/NĐ-CP do đánh bạc (Quyết định số 1081/QĐ-UBND ngày 04/12/2015). TAND tỉnh Sóc Trăng và TAND cấp cao tại TP.HCM đã thụ lý theo TTHC rồi đình chỉ giải quyết. Quyết định giám đốc thẩm số 06/2018/HC-GĐT ngày 10/10/2018 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã hủy các quyết định trên, khẳng định ông X là viên chức ngành giáo dục, khiếu kiện kỷ luật viên chức thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự chứ không thuộc khoản 2 Điều 30 Luật TTHC năm 2015.
- Xác định sai căn cứ pháp luật về thẩm quyền theo cấp: Bản án số 200/2021/HC-ST ngày 04/02/2021 của TAND TP.HCM xét xử khiếu kiện của ông N đối với Quyết định số 10534/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND huyện C. HĐXX sơ thẩm lại căn cứ vào khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 Luật TTHC năm 2015 (quy định về quyết định hành chính thông thường) để thụ lý thay vì áp dụng đúng quy định về QĐKLBTV của người đứng đầu cơ quan cấp huyện.
- Nguyên nhân và giải pháp hoàn thiện: Chỉ ra nguyên nhân từ sự phức tạp của văn bản pháp luật và nhận thức của Thẩm phán. Khóa luận kiến nghị sửa đổi, hướng dẫn cụ thể các điều khoản phân định thẩm quyền trong Luật TTHC năm 2015, quy định rõ thẩm quyền tuyên hủy quyết định giải quyết khiếu nại đối với QĐKLBTV và tăng cường tập huấn chuyên môn cho đội ngũ Thẩm phán.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các số liệu xét xử thực tế của TAND các cấp và chỉ ra các phát hiện mang tính thực tiễn:
| Chỉ số / Tiêu chí |
Dữ liệu ghi nhận trong văn bản |
| Số lượng vụ án hành chính giải quyết toàn ngành Tòa án |
7.922 vụ (năm 2017) $\rightarrow$ 11.746 vụ (năm 2022) |
| Tỷ lệ bản án hành chính bị hủy qua các năm |
4,09% năm 2017 (chủ quan 3,43%) $\rightarrow$ 3,8% năm 2022 (chủ quan 2,71%) |
| Tỷ lệ bản án hành chính bị sửa qua các năm |
3,78% năm 2017 (chủ quan 3,34%) $\rightarrow$ 3,0% năm 2022 |
| Số vụ án khiếu kiện QĐKLBTV khảo sát trên Cổng TTĐT TANDTC (2017–2023) |
12 vụ án |
| Phân bổ thụ lý án QĐKLBTV khảo sát tại Tòa án địa phương |
TAND cấp huyện: 06 vụ; TAND cấp tỉnh: 11 vụ |
Các kết quả và đóng góp chính:
- Làm rõ ranh giới pháp lý: Phân định rõ thẩm quyền thụ lý khiếu kiện QĐKLBTV đối với công chức (thuộc Luật TTHC) và viên chức (thuộc Tố tụng dân sự/Lao động), vạch rõ các sai sót thực tế qua Quyết định giám đốc thẩm số 06/2018/HC-GĐT.
- Làm rõ giới hạn phán quyết: Khẳng định Tòa án chỉ có quyền tài phán đối với tính hợp pháp chứ không can thiệp vào tính hợp lý của QĐKLBTV nhằm tôn trọng nguyên tắc phân công, kiểm soát quyền lực giữa nhánh tư pháp và hành pháp.
- Hệ thống hóa thẩm quyền của HĐXX sơ thẩm: Phân tích mối liên kết giữa Điều 193 Luật TTHC năm 2015 và Điều 14, 17 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 trong việc bồi thường thiệt hại và khôi phục vị trí công tác cho công chức bị kỷ luật oan sai.
- Đóng góp học thuật: Là công trình chuyên sâu, có tính hệ thống đầu tiên nghiên cứu toàn diện từ cơ sở lý luận, so sánh quốc tế đến đánh giá thực tiễn áp dụng Luật TTHC năm 2015 đối với riêng loại khiếu kiện QĐKLBTV công chức.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do đặc thù loại khiếu kiện QĐKLBTV công chức chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong cơ cấu các vụ án hành chính, nguồn bản án công khai trên Cổng thông tin điện tử của TAND tối cao còn hạn chế (khảo sát được 12 vụ án từ 2017 đến 2023). Đề tài chưa khảo sát được toàn diện hồ sơ lưu trữ nội bộ tại tất cả các TAND địa phương trên cả nước.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết khiếu kiện kỷ luật đối với các nhóm đối tượng đặc thù khác như cán bộ, viên chức giữ chức vụ quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước; nghiên cứu cơ chế phối hợp liên thông giữa thủ tục tố tụng hành chính và thủ tục khiếu nại nội bộ trong nền công vụ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Luật: Là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu môn Luật Tố tụng hành chính, Luật Hành chính và Khoa học quản lý công vụ - công chức.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên: Cung cấp cơ sở lý luận và các tình huống án mẫu để nhận diện đúng thẩm quyền thụ lý, tránh nhầm lẫn giữa công chức và viên chức, tránh viện dẫn sai điều luật phân định thẩm quyền giữa TAND cấp huyện và cấp tỉnh.
- Luật sư và công chức: Cung cấp kiến thức pháp lý về căn cứ đánh giá tính hợp pháp của quyết định kỷ luật, trình tự khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bị kỷ luật buộc thôi việc trái quy định.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao quyết định kỷ luật là quyết định quản lý nội bộ nhưng quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức lại thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án?
Về nguyên tắc, khoản 1 Điều 30 Luật TTHC năm 2015 loại trừ các quyết định mang tính nội bộ của cơ quan hành chính nhà nước. Tuy nhiên, hình thức kỷ luật "buộc thôi việc" (theo Điều 79 Luật Cán bộ, công chức năm 2008) có hậu quả pháp lý làm cho người bị kỷ luật chấm dứt hoàn toàn tư cách công chức, không còn là đối tượng chịu sự điều chỉnh của quy chế công vụ nội bộ. Quyết định này tác động trực tiếp đến quyền làm việc của cá nhân công dân, do đó pháp luật TTHC trao thẩm quyền cho Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người bị kỷ luật.
2. Tòa án nhân dân khi xét xử khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc có quyền xem xét tính hợp lý của quyết định đó không?
Không. Theo khoản 1 Điều 193 Luật TTHC năm 2015, HĐXX sơ thẩm chỉ có quyền xem xét "tính hợp pháp" của quyết định (về thẩm quyền, nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục và thời hạn ban hành). Tòa án không được quyền xem xét "tính hợp lý" vì việc đánh giá mức độ vi phạm để áp dụng hình thức kỷ luật phù hợp thuộc về chức năng quản lý nhân sự chuyên biệt của cơ quan hành pháp. Nếu Tòa án can thiệp vào tính hợp lý sẽ dẫn đến sự chồng chéo chức năng giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp.
3. Trong thực tiễn xét xử, sai sót phổ biến nhất của Tòa án khi xác định đối tượng khởi kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc là gì?
Sai sót phổ biến nhất là việc Tòa án không phân biệt rõ tư cách pháp lý giữa công chức và viên chức. Điển hình như vụ việc của ông Phan Hoàng X (giáo viên tiểu học - viên chức) bị Chủ tịch UBND huyện buộc thôi việc theo Nghị định số 27/2012/NĐ-CP; TAND tỉnh Sóc Trăng và TAND cấp cao tại TP.HCM đã thụ lý và đình chỉ giải quyết theo Luật TTHC, dẫn đến việc Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao phải ra Quyết định giám đốc thẩm số 06/2018/HC-GĐT hủy các quyết định này vì khiếu kiện kỷ luật viên chức không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật TTHC năm 2015.
4. Khi chấp nhận yêu cầu khởi kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc, Hội đồng xét xử sơ thẩm có những quyền hạn cụ thể nào?
Theo điểm d và điểm g khoản 2 Điều 193 Luật TTHC năm 2015, HĐXX có quyền:
- Tuyên hủy QĐKLBTV trái pháp luật;
- Buộc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật (khôi phục lại chức vụ, vị trí công tác ban đầu);
- Buộc cơ quan, tổ chức bồi thường thiệt hại và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của công chức (theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017);
- Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của người có thẩm quyền ban hành quyết định trái luật.
5. Thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án trong khiếu kiện này được xác định như thế nào?
Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ của TAND đối với khiếu kiện QĐKLBTV công chức được xác định dựa trên cơ sở cùng phạm vi địa giới hành chính với người đứng đầu cơ quan, tổ chức ban hành quyết định kỷ luật bị khởi kiện hoặc nơi làm việc của công chức bị kỷ luật.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Lệ Thuỷ đã làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực định về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của TAND theo Luật TTHC năm 2015. Thông qua việc phân tích các vụ án cụ thể và số liệu xét xử giai đoạn 2017 – 2023, công trình đã chỉ ra những vướng mắc điển hình trong việc xác định đối tượng khởi kiện và phân định cấp Tòa án có thẩm quyền. Hệ thống các giải pháp hoàn thiện pháp luật được đề xuất trong khóa luận góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công chức, nâng cao chất lượng hoạt động xét xử hành chính và tăng cường kỷ cương trong nền công vụ Việt Nam.