CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH KỶ LUẬT BUỘC THÔI VIỆC CÔNG CHỨC CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN 1. Những vấn đề lý luận về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Toà án nhân dân 1. Khái niệm thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức của Tòa án nhân dân Theo Hiến pháp năm 2013, Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân1. Theo đó, một trong những thẩm quyền của Toà án trong hệ thống tư pháp có thể kể đến là thẩm quyền xét xử VAHC.
Việc đặt ra vấn đề xem xét các quyết định của CQHC xuất phát từ sự phân công, kiểm soát giữa các nhánh quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước. Do đó, việc xác định thẩm quyền xét xử VAHC của Toà án có vai trò quan trọng trong việc xác định thẩm quyền, quyền hạn cụ thể của Toà án khi thụ lý, xem xét, giải quyết các khiếu kiện hành chính của tổ chức, cá nhân. Đồng thời là cơ sở để xác định ranh giới giữa chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động quyền tư pháp, góp phần làm rõ nét và cụ thể sự phân công thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan trong tổ chức bộ máy nhà nước2. Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện QĐKLBTV công chức là một trong những thẩm quyền của Toà án trong việc xét xử VAHC.
Việc xác định thẩm quyền giải quyết khiếu kiện QĐKLBTV công chức sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định quyền hạn, nhiệm vụ của Toà án trong quá trình giải quyết vụ án. Có thể nói, “thẩm quyền” là một trong những khái niệm quan trọng, là trung tâm của khoa học pháp lý, không có một thuật ngữ nào được sử dụng phổ biến trong pháp luật như thuật ngữ thẩm quyền3. Theo đó, thẩm quyền của mỗi tổ chức, cá nhân được pháp luật trao quyền cho từng chủ thể là khác nhau, tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực hoạt động, ngành hoạt động mà các chủ thể có quyền hạn nhất định và tuỳ vào đó mà thẩm quyền cũng sẽ được thể hiện dưới nhiều cách thức khác nhau. 1 Khoản 1 và khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013.
2 Nguyễn Thanh Bình (2003), Thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 3 Nguyễn Cửu Việt (2005), “Cải cách hành chính: về khái niệm thẩm quyền”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (số 08), tr. 7 Theo từ điển Hán Việt, thẩm quyền có nghĩa là “được quyền xét đoán định đoạt một việc gì đó”4. Còn theo từ điển tiếng Việt, thẩm quyền có nghĩa là “quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật”5.
Thuật ngữ thẩm quyền theo cách giải thích của một số tác giả nước ta hiện nay có phần tương đồng và có những điểm khác biệt nhất định so với các thuật ngữ nước ngoài. Theo từ điển “Black’s Law Dictionary” người ta dùng thuật ngữ “authority” hoặc “competence” dùng để chỉ thẩm quyền nói chung của tất cả các cơ quan, theo đó thuật ngữ được sử dụng trên được hiểu là quyền hạn, quyền được phép hành động hoặc được uỷ quyền cho người đại diện được phép thực hiện hay khả năng làm một điều gì đó cơ bản và tối thiểu của cơ quan công quyền (thường là cơ quan hành chính) để xem xét và giải quyết việc gì đó theo pháp luật6. Bên cạnh đó, thuật ngữ “jurisdiction” được sử dụng để chỉ thẩm quyền hoặc quyền tài phán của Tòa án (cơ quan tư pháp) trong phạm vi lãnh thổ nhất định7. Tương tự, thuật ngữ pháp lý thẩm quyền trong tiếng pháp, “autorisé” có nghĩa là có thẩm quyền8, “juridiction” mang nghĩa là thẩm quyền xét xử, phạm vi xét xử của toà án9.
Trong từ điển pháp luật của Nhật Bản có thuật ngữ “Kengen” cũng dùng để chỉ thẩm quyền. Trong đó “Ken” là quyền để xem xét, giải quyết vụ việc; “Gen” là sự giới hạn, có nghĩa là sự giới hạn quyền lực được trao để xem xét, giải quyết một vụ việc nào đó theo quy định của pháp luật; thuật ngữ “Saibanken” được sử dụng để chỉ thẩm quyền của toà án và “Kankatsu ken” để chỉ thẩm quyền quản lý hành chính10. Như vậy, có thể nhận thấy rằng, mặc dù cách sử dụng thuật ngữ ở các quốc gia có phần khác biệt nhưng nhìn chung nội hàm thuật ngữ thẩm quyền mà các quốc gia sử dụng đều hướng đến khả năng thực hiện quyền xem xét, giải quyết vụ việc của cơ quan công quyền. Trên phương diện pháp lý, khái niệm thẩm quyền được nhiều tác giả định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể như sau: thẩm quyền có nghĩa là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định11.
Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Cửu Việt: “Thẩm quyền là một khái niệm tập hợp, là tổng hợp những quyền và nghĩa vụ chung để thực hiện những chức năng nhất định và quyền hạn cụ thể để thực hiện 4 Bửu Kế (1999), Từ điển Hán – Việt từ nguyên, Nxb Thuận Hoá, tr. 5 Hoàng Phê (chủ biên) (2006), Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng, tr. Garner (2001), Black’s Law Dictionary, Nxb Oxford, tr. Garner (2001), Black’s Law Dictionary, Nxb Oxford, tr.
8 Trung tâm khoa học và xã hội và nhân văn quốc gia – Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Pháp – Việt, Nxb Tp. 9 Trung tâm khoa học và xã hội và nhân văn quốc gia – Viện Ngôn ngữ học, tlđd (8), tr. 10 English- Japanese Dictionary and handbook (1995), Nxb Cassell, tr. 11 Nguyễn Hữu Quỳnh (1999), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.
8 những quyền và nghĩa vụ chung đó”12. Theo Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: “Thẩm quyền là khả năng của chủ thể trong việc xem xét và giải quyết hay định đoạt công việc nào đó trên cơ sở các chuẩn mực pháp luật đã định trước”. Nói một cách khái quát, thẩm quyền là quyền hạn pháp luật quy định cho cơ quan công quyền và công chức giữ chức vụ nhà nước nhất định”13. Theo tác giả Nguyễn Văn Huyên, “thẩm quyền là tổng hợp tất cả các quyền mà pháp luật quy định cho một tổ chức hoặc một cán bộ, công chức nhà nước được thực hiện công việc trong các lĩnh vực và phạm vi nhất định”14.
Một quan điểm của tác giả khác về khái niệm của thẩm quyền như sau: “thẩm quyền là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho một cơ quan, tổ chức hoặc một công chức được xem xét giải quyết những công việc cụ thể trong lĩnh vực và phạm vi nhất định nhằm thực hiện chức năng của bộ máy nhà nước”15. Như vậy, qua những cách giải thích về thuật ngữ thẩm quyền của các công trình khoa học trên, tác giả thấy rằng khái niệm về thẩm quyền hiện nay được phân chia thành hai quan điểm: (i) Một là, khái niệm thẩm quyền được hiểu có nội dung là “quyền”; (ii) Hai là, khái niệm thẩm quyền được hiểu dưới nội dung là “quyền và nghĩa vụ” (hay còn được gọi là quyền và trách nhiệm). Theo quan điểm của tác giả, tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, bởi lẽ “quyền” là một thuật ngữ pháp lý có thể được hiểu rằng khi một cơ quan, chủ thể có thẩm quyền được pháp luật trao quyền thực hiện công vụ, nhiệm vụ thì họ sẽ có quyền quyết định, giải quyết một vấn đề cụ thể và quyền quyết định này được giới hạn trong phạm vi, lĩnh vực nhất định – đó được gọi là quyền hạn. Vì vậy, có thể hiểu rằng nội hàm của nội dung “quyền” được hiểu một cách khái quát là quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
Bên cạnh thực hiện những quyền hạn đó chủ thể có thẩm quyền phải thực hiện những yêu cầu mà pháp luật đề ra, đây được xem là nghĩa vụ mà họ phải thực hiện. Từ những lập luận trên, tác giả khái quát hoá về khái niệm thẩm quyền như sau: “Thẩm quyền là quyền và nghĩa vụ của một chủ thể được pháp luật trao quyền, cho phép thực hiện các chức năng, quyền hạn nhất định theo quy định của pháp luật”. Thẩm quyền của Toà án là một trong những thẩm quyền riêng biệt. Theo Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định TAND là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp.
12 Nguyễn Cửu Việt, Tập bài giảng những vấn đề cơ bản về khoa học lý luận quản lý nhà nước, tr. 13 Hoàng Văn Sao, Nguyễn Phúc Thành (đồng chủ biên) (2014), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Đại học Luật Hà Nội, tr. 14 Nguyễn Văn Huyên (2003), Thẩm quyền của Tòa án các cấp theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 15 Lê Thị Hà (2005), Phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Toà án ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
9 Theo quy định trên, có thể thấy thẩm quyền của Toà án là chức năng chuyên biệt, khác với chức năng của những cơ quan khác. Theo quan điểm của một vài tác giả khoa học cho rằng: “Thẩm quyền của Toà án là quyền xem xét giải quyết các vụ việc và quyền ra các quyết định giải quyết vụ án hành chính”16. Theo tác giả Nguyễn Đức Mai: “Thẩm quyền của Toà án là một thể thống nhất bao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau đó là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung. Thẩm quyền về hình thức được thể hiện ở quyền hạn xem xét và phạm vi xem xét của Toà án (thẩm quyền xét xử và phạm vi xét xử), còn thẩm quyền về nội dung thể hiện ở quyền hạn giải quyết, quyết định của Toà án đối với những vấn đề đã được xem xét”17.