Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo lập môi trường cạnh tranh trong ngành điện lực Việt Nam. Chương 2: Thực trạng về tạo lập môi trường cạnh tranh trong ngành điện lực Việt Nam. Chương 3: Quan điểm và giải pháp tạo lập môi trường cạnh tranh trong ngành điện lực Việt Nam. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TẠO LẬP MÔI TRƢỜNG CẠNH TRANH TRONG NGÀNH ĐIỆN LỰC VIỆT NAM 1.
Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh và môi trƣờng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trƣờng 1.1 Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường 1. Khái niệm cạnh tranh Có thể nhận thấy, cạnh tranh là hành vi giải quyết mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa các chủ thể, bằng mọi biện pháp, thủ đoạn đấu tranh, ganh đua giành lấy những điều kiện SX, tiêu thụ có lợi nhất nhằm tối đa hoá lợi ích cho mỗi chủ thể trong nền kinh tế thị trường. Theo đó, nguồn gốc của hiện tượng cạnh tranh gắn liền với điều kiện tồn tại của SX hàng hoá, mà trực tiếp là sự độc lập về mặt lợi ích của các chủ thể kinh tế trong nền SX xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, cạnh tranh có bản chất kinh tế và bản chất xã hội của nó.
Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện mục đích tạo lập cho mình một ưu thế chi phối thị trường và vì lợi nhuận. Bản chất xã hội của cạnh tranh là bộc lộ đạo đức KD và uy tín của mỗi chủ thể cạnh tranh trong mối quan hệ đối với những người lao động trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh tranh của DN và trong mối quan hệ với người tiêu dùng và với các đối thủ cạnh tranh khác 1. Mục đích của cạnh tranh Mục đích của cạnh tranh là nhằm giành những điều kiện thuận lợi để thu nhiều lợi nhuận, tối đa hoá lợi ích bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của mỗi chủ thể. Để đạt được mục tiêu đó, các chủ thể phải sử dụng các biện pháp đua tranh về kinh tế - kỹ thuật là chủ yếu và điều này có tác dụng to lớn đối với sự tiến bộ KT- XH, góp phần thải loại những yếu tố lỗi thời, kém hiệu quả.
Vì lẽ đó mà cạnh tranh được coi là sự phá huỷ mang tính sáng tạo, ngoài ra cạnh tranh để:Giành các nguồn lực SX; Giành ưu thế về KH-CN; Giành thị trường; Giành ưu thế về chất lượng và giá cả hàng hóa… 6 1. Phân loại cạnh tranh * Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh - Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có nhiều người bán và không người nào có ưu thế để cung cấp một số lượng sản phẩm quan trọng mà có thể ảnh hưởng tới giá cả. Người bán tham gia trên thị trường chỉ có cách thích ứng với giá cả trên thị trường, họ chủ yếu tìm cách giảm chi phí và SX một mức sản phẩm đến mức giới hạn mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên. Cạnh tranh hoàn hảo còn được gọi là cạnh tranh thuần tuý, trong đó giá cả của một loại hàng hóa không đổi trong toàn bộ các địa danh của thị trường.
- Cạnh tranh không hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành mà các chủ thể KD có quyền lực thị trường tương đối lớn để có thể kiểm soát giá cả sản phẩm đầu ra hoặc đầu vào của họ. Thực tế cho thấy rằng không bao giờ có thể tồn tại cạnh tranh hoàn hảo, bởi những giả thiết về sự tồn tại của các nhân tố hoàn hảo của thị trường là điều gần như không tưởng. Sở dĩ, có thực trạng này vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận của các DN trong cạnh tranh đã thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung tư bản, phân bố các DN diễn ra không đều ở các ngành và lĩnh vực kinh tế khác nhau. Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại là độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính độc quyền.
Độc quyền nhóm là hình thái thị trường mà trong đó chỉ có một số ít các DN, mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả của họ không chỉ phụ thuộc vào năng suất của chính họ mà còn phụ thuộc lớn vào hoạt động của các đối thủ cạnh tranh quan trọng trong ngành; mỗi DN đều có ảnh hưởng lớn tới thị trường. Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thái thị trường có nhiều người bán cung cấp các sản phẩm khác biệt nhau nhưng có thể dễ dàng thay thế cho nhau. Mỗi hãng chỉ có khả năng ảnh hưởng hạn chế tới giá sản phẩm của mình. - Cạnh tranh độc quyền: Cạnh tranh độc quyền là sự pha trộn giữa độc quyền và cạnh tranh mà ở đó chỉ có một số người bán sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều người bán một loại sản phẩm không độc nhất.
Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm hay hàng hoá bán ra trên thị trường. Điều kiện gia nhập 7 hoặc rút khỏi thị trường cạnh tranh độc quyền có nhiều cản trở: Do vốn đầu tư lớn hay do độc quyền bí quyết công nghệ. Trong thị trường này không có cạnh tranh về giá cả mà một số người bán toàn quyền quyết định giá. Họ có thể định giá cao hơn hoặc thấp hơn tuỳ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm, cốt sao cuối cùng họ thu được lợi nhuận tối đa Đôi khi, độc quyền xuất hiện thoát ly ý thức chủ quan của DN, đó là trường hợp độc quyền tự nhiên.
Một số ngành công nghiệp có thể trở thành độc quyền tự nhiên do đặc điểm công nghệ, nhu cầu đối với sản phẩm, yêu cầu lợi ích theo qui mô…Với những ngành này cạnh tranh không đem lại ý nghĩa kinh tế nào hoặc lợi ích cạnh tranh không đáng với cái giá bỏ ra. Thực tế không có nhiều ngành độc quyền tự nhiên, chủ yếu trong các ngành như điện, nước sạch, khí đốt,…Sự tồn tại của độc quyền tự nhiên là khách quan, do đó biện pháp duy nhất NN có thể làm là điều tiết những độc quyền đó. * Căn cứ vào cách thức cạnh tranh: - Cạnh tranh lành mạnh: là cuộc cạnh tranh mà các chủ thể tham gia KD trên thị trường dùng chính bằng những tiềm năng vốn có của bản thân DN, để cạnh tranh với các đối thủ nhằm thu hút khách hàng mà pháp luật không cấm và phù hợp với tập quán thương mại và đạo đức KD truyền thống. - Cạnh tranh không lành mạnh: là bất cứ hành động nào trong hoạt động kinh tế trái với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ KD hoặc khách hàng.
Và cũng gần như sẽ không có người thắng nếu việc KD được tiến hành giống như một cuộc chiến. Như vậy, cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi đi ngược lại các nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống KD, cụ thể hơn chúng ta có thể đưa ra căn cứ xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh là làm hại lợi ích chính đáng của DN khác, của người tiêu dùng hoặc lợi ích của xã hội. * Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế : - Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là một cuộc cạnh tranh giữa các DN trong cùng một ngành, cùng SX một loại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch bằng các biện pháp cải tiến kỹ thuật, nâng 8 cao năng suất lao động, giảm chi phí SX làm cho giá trị hàng hoá cá biệt do DN SX ra nhỏ hơn giá trị xã hội. Kết quả cuộc cạnh tranh này làm cho kỹ thuật SX phát triển hơn.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các DN hay đồng minh giữa các DN trong các ngành với nhau nhằm giành giật lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình này xuất hiện sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành khác nhau, kết quả hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. Vai trò của cạnh tranh đối với sự phát triển kinh tế Như chúng ta đã biết, chỉ khi nền kinh tế có sự cạnh tranh thực sự thì các DN mới có sự đầu tư nhằm nâng cao sự cạnh tranh và nhờ đó sản phẩm hàng hoá ngày càng được đa dạng, phong phú và chất lượng được tốt hơn. Đó chính là tầm quan trọng của cạnh tranh đối với DN SXKD.
Cạnh tranh có vai trò đối với sự phát triển kinh tế như sau: Thứ nhất, Cạnh tranh sẽ giúp DN nâng cao năng lực của mình về mọi mặt. Trong một thị trường có tính cạnh tranh, khách hàng có nhiều quyền lựa chọn, những hàng hóa có chất lượng, với mức giá hợp lý hơn thì khả năng được lựa chọn cũng lớn hơn. Do vậy, các DN luôn chịu áp lực phải hoàn thiện hơn sản phẩm của mình. Nhờ vậy, mỗi thành viên của DN có cơ hội rèn luyện, không ngừng nâng cao khả năng của mình, trình độ quản lý, năng suất lao động cũng được nâng lên.
DN nhanh nhạy hơn trong nắm bắt, cũng như đáp ứng nhu cầu thị trường. Thứ hai, Cạnh tranh sẽ giúp hạ giá thành sản phẩm, nhờ đó bảo vệ tốt quyền lợi của người tiêu dùng. Khả năng bán được nhiều hàng hóa hơn và thu được lợi nhuận lớn hơn sẽ buộc nhà SX luôn cố gắng hạ chi phí của mình, bởi DN không thể nâng giá đầu ra lên quá cao so với mức giá của thị trường. Xu thế tất yếu là giá thành sản phẩm trung bình của toàn xã hội sẽ giảm xuống.
Nếu không có cạnh tranh, người mua sẽ buộc phải chấp nhận sản phẩm duy nhất trên thị trường, với mức giá độc quyền cao. Thứ ba, Cạnh tranh giúp sử dụng hiệu quả các nguồn lực của DN. Khi có cạnh tranh, không một chính phủ nào cần phải qui định các DN SX mặt hàng gì với 9 số lượng, chất lượng và giá cả thế nào. Cạnh tranh giữa các hãng buộc họ phải tiến bộ hơn các đối thủ để thu hút người mua.
DN trở thành người đặt hàng các nhà khoa học, và tích cực đưa các thành tựu khoa học vào thực tế. Những DN hoạt động không hiệu quả sẽ bị phá sản, các nguồn lực của các DN đó sẽ được chuyển sang cho các DN khác, hoạt động có hiệu quả hơn, chứ không bị mất đi. Vì vậy, nhà kinh tế Mỹ gốc Áo Alois Schumpeter đã coi "phá sản là một sự tàn phá sáng tạo".