phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, danh mục sơ đồ bảng biểu, Luận văn được chia thành 03 chương: 5 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả cho vay của Ngân hàng thương mại đối với hộ sản xuất Chƣơng 2: Thực trạng cho vay hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Quốc Oai Hà Tây Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Quốc Oai Hà Tây 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT 1. Tổng quan hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất của ngân hàng thƣơng mại 1. Tổng quan về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại NHTM là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay thực hiện tốt nghiệp vụ chiết khấu và phương tiện thanh toán.
NHTM ra đời cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, các quan điểm trước đây thường cho rằng NHTM như một cơ quan thực hiện phân phối vốn một cách thuần túy, từ đó cách nhìn nhận về NHTM càng trở nên nặng nề. Việc thừa, thiếu vốn trong tạm thời thường xuyên xảy ra đối với các đơn vị kinh tế, đến một thời điểm thì cả người thừa vốn và người thiếu vốn cùng xuất hiện nhưng họ lại không tìm được với nhau. NHTM chính là cầu nối giúp người thừa vốn chuyển vốn sang cho người thiếu vốn NHTM đã và đang phát triển đặt vị trí tiên phong chủ chốt trong nền kinh tế. NHTM là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế.
Hàng triệu cá nhân, hộ sản xuất và các doanh nghiệp , các tổ chức kinh tế - xã hội đều gửi tiền tại NHTM NHTM đóng vai trò người thủ quỹ trong toàn xã hội. Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại: Theo Mishkin (1995), Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian cung cấp các dịch vụ tài chính bao gồm nhận tiền gửi và cho vay tiền, thanh toán và các dịch vụ tài chính khác.Rose (2004), định nghĩa ngân hàng thương mại được đưa ra như sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Theo Luật các tổ chức tín dụng (2010) quy định “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. b) Cấp tín dụng; Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Nói tóm lại, Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh doanh tiền tệ, với nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín 8 dụng và cung ứng các dịch vụ liên quan đến lĩnh vực tài chính - ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Khái niệm về cho vay Cho vay của NHTM là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ NHTM (người sở hữu) sang khách hàng vay (người sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Hay có thể hiểu cho vay của NHTM là quan hệ giữa một bên là người cho vay (NHTM) bằng cách chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên vay (khách hàng vay) để sử dụng trong một thời gian nhất định với cam kết của người vay là hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn. Cho vay là quyền của NHTM, vì vậy NHTM có quyền yêu cầu khách hàng vay phải tuân thủ những điều kiện mang tính pháp lý nhằm đảm bảo việc trả nợ khi đến hạn. Theo Luật các tổ chức tín dụng (2010): “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” 1. Phân loại cho vay Cho vay NHTM được chia thành nhiều loạt khác nhau dựa trên các tiêu thức phân loại khác nhau: Căn cứ vào mục đích a.
Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó b. Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác (sau đây gọi là hoạt động kinh doanh) là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngoài quy định cho vay phục vụ nhu cầy đời sống, bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân đó 9 và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân Căn cứ vào thời hạn cho vay Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của việc cho vay cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian, cho vay được phân thành: a. Cho vay ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống Tài sản lưu động thường có vòng quay trên 1 vòng trong một năm Do vậy, ngân hàng cấp tín dụng ngắn hạn với thời hạn từ 1 năm trở xuống.
Loại cho vay này thường chiếm tỷ trọng cao trong các NHTM. Cho vay trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm Các tài sản cố định như phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang thiết bị chóng hoa mòn có yêu cầu được tài trợ từ trên 1 năm đến 5 năm c. Cho vay dài hạn: Trên 5 năm Công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu, đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thường có thời gian sử dụng lâu có yêu cầu được tài trợ trên 5 năm, có thể tới 10 hoặc 30 năm Thời hạn cho vay thường được xác định cụ thể (ngày, tháng, năm) và ghi trong hợp đồng tín dụng, là thời gian mà trong đó ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng một khoản tín dụng. Thời hạn cho vay có thể được tính từ lúc đồng vốn đầu tiên của ngân hàng được phát ra đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùng phải thu về.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng a. Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Loại này thường sử dụng dùng khách hàng quen thuộc có khả 10 năng tài chính mạnh. Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay được NHTM cung ứng nhưng phải có thế chấp cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba.
Căn cứ vào hình thái của tín dụng a. Cho vay bằng tiền: là hình thức cho vay chủ yếu của các Ngân hàng và việc cho vay được thực hiện bằng các nghiệp vụ khác như: cho vay thấu chi, cho vay trả góp…… b. Cho vay bằng tài sản: loại cho vay này thường dưới hình thức Ngân hàng cho vay bằng tài trợ thuê mua Theo phương thức này các ngân hàng thương mại hoặc công ty Cho thuê tài chính của NHTM cung cấp trực tiếp tài sản cho người đi vay được gọi là người đi thuê và người đi thuê hoàn trả nợ vay bao gồm cả vốn gốc và lãi khi đến hạn. Căn cứ vào phương thức cho vay a.
Cho vay theo món ( từng lần): Mỗi lần cho vay, TCTD và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay. Cho vay theo hạn mức tín dụng: TCTD xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong hạn mức cho vay, TCTD thực hiện cho vay từng lần. Một năm ít nhất một lần, TCTD xem xét xác định lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này.
Cho vay hợp vốn: Là việc có từ hai TCTD trở lên cùng thực hiện cho vay đối với khách hàng để thực hiện một phương án, dự án vay vốn. Cho vay lưu vụ: Là việc TCTD thực hiện cho vay đối với khách hàng để nuôi trồng, chăm sóc các cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm Theo đó, TCTD và khách hàng thỏa thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước tiếp tục được sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhưng 11 không vượt quá thời gian của 02 chu kỳ sản xuất liên tiếp. Cho vay theo hạn mức dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi mức cho vay dự phòng đã thỏa thuận. TCTD và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng nhưng không vượt quá 01 năm f.
Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán: TCTD chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng một mức thấu chi tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán. Mức thấu chi tối đa được duy trì trong khoảng thời gian tối đa 01 năm g.