Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. 123doc 3 Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả cho vay bán lẻ và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay bán lẻ. Chương 3: Thực trạng hiệu quả cho vay bán lẻ tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Sài Gòn Chương 4: Xây dựng mô hình kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay bán lẻ trong hoạt động của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Sài Gòn. Chương 5: Kết luận, giải pháp và kiến nghị.
Ý nghĩa khoa học của luận văn Về mặt lý luận, luận văn xem xét các tiêu chí đo lường hiệu quả cho vay bán lẻ và hệ thống hóa có phân tích, đánh giá các nhân tố có ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay bán lẻ và áp dụng để đánh giá hiệu quả cho vay bán lẻ của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Sài Gòn trong giai đoạn 2012-2016, thông qua mô hình kinh tế lượng để chỉ ra hướng tác động và mức độ ảnh hưởng của mỗi chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay đến hiệu quả cho vay bán lẻ tổng thể của Ngân hàng. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn là đóng góp hữu ích cho ban lãnh đạo của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam tìm ra được những thuận lợi và khó khăn của ngân hàng, những tồn tại trong quản lý, điều hành ngân hàng dẫn đến hiệu quả chưa cao đồng thời đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Sài Gòn trong thời gian tới góp phần lựa chọn các chính sách, đưa ra các quyết định phù hợp. 123doc 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương này trình bày sơ lược lý thuyết nền tảng về hiệu quả cho vay, hiệu quả cho vay bán lẻ và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay bán lẻ. Bên cạnh đó, luận văn cũng đưa ra cách thức đo lường hiệu quả cho vay bán lẻ, trên cơ sở tiếp cận các bài nghiên cứu trong và ngoài nước để đưa ra các yếu tố chính sẽ sử dụng để đi sâu phân tích và áp dụng vào đánh giá hiệu quả cho vay bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Sài Gòn.
Những vấn đề cơ bản về cho vay bán lẻ tại Ngân hàng thương mại Cho vay bán lẻ là hình thức cho vay đối tượng khách hàng bán lẻ, do đó để hiểu được nền tảng về cho vay bán lẻ phải phân tích thông qua các khái niệm về cho vay và khách hàng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại. Khái niệm cho vay Trong Quyết định số 1627/2001/QD-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam định nghĩa: “Cho vay, là một trong những hình thức cấp tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm lãi suất”. Cho vay ngân hàng là giao dịch tài sản giữa bên cho vay là Ngân hàng và bên đi vay là các chủ thể trong nền kinh tế- xã hội. Xét về bản chất, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả với bốn đặc trưng: tài sản giao dịch gồm hai hình thức là tiền hay hiện vật; phải tuân thủ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn; giá trị được hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, (người đi vay phải trả thêm phần lãi, ngoài vốn gốc); tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện, (bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn trả vay); Trong Mục 16 – Điều 4 – Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 định nghĩa như sau: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một 123doc 5 khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp cho vay khác….Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Định nghĩa này tập trung vào mục đích của khoản vay, thời gian cho vay đồng thời cam kết hoàn trả khoản vay, chỉ đề cập đến cho vay bằng tiền mà chưa đề cập đến cho vay bằng hàng hóa.Mác, cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu (NHTM) sang người sử dụng (người vay), sau một thời gian nhất định lại quay về với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Theo quan điểm này, phạm trù cho vay có ba nội dung chủ yếu đó là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả. Do vậy, cho vay là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hóa. Tuy nhiên, khái niệm này lại không đề cập đến mục đích khoản vay.
Từ phân tích trên, có thể khái quát cho vay hoạt động trên nguyên tắc khoản vay phải dùng cho một mục đích nhất định, người vay phải hoàn trả lại khoản vay theo thời gian cam kết, với giá trị cao hơn so với giá trị cho vay ban đầu (khoản gốc và lãi). Đặc điểm của cho vay bán lẻ tại Ngân hàng thương mại Theo Đường Thị Thanh Hải (2014), hoạt động cho vay bán lẻ đã, đang và sẽ ngày càng phát triển trong hệ thống ngân hàng thương mại khi nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày càng được nâng cao. Do đối tượng khách hàng lõi trong ngân hàng bán lẻ thường là người tiêu dùng và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn để phục vụ tiêu dùng và sản xuất nên đặc điểm của cho vay bán lẻ cũng gắn với đặc điểm của nhóm khách hàng này: Thứ nhất, quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng vay lớn. So với việc cho vay sản xuất kinh doanh, giá trị các khoản cho vay cá nhân không lớn.
Điều này một phần 123doc 6 do giá trị hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng ở mức vừa phải. Mặt khác, đa số các khách hàng vay vốn đã có sự tích luỹ từ trước đối với các tài sản có giá trị lớn, họ chỉ tìm đến ngân hàng với mục đích hỗ trợ cho hoạt động tiêu dùng cá nhân. Tuy quy mô khoản vay này là nhỏ nhưng tổng quy mô cho vay của ngân hàng lại rất lớn, do số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn tín dụng cá nhân lớn. Thứ hai, các khoản tín dụng cá nhân có mức lãi suất cho vay chưa linh hoạt.
Khách hàng cá nhân thường ít “nhạy cảm” với lãi suất, họ thường chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Do đó, khác với hầu hết các khoản cho vay kinh doanh lãi suất được điều chỉnh theo thị trường, lãi suất tín dụng cá nhân thường được ấn định tại một mức nhất định. Đối với các khoản cho vay ngắn hạn, lãi suất được ấn định ngay từ đầu và không thay đổi cho đến hết thời hạn vay. Đối với những khoản vay trung và dài hạn, lãi suất cho vay thường được điều chỉnh mỗi năm một lần dựa trên cơ sở lãi suất huy động, cộng với một biên độ nhất định tuỳ theo từng ngân hàng.
Thứ ba, tín dụng cá nhân có chi phí lớn nhất trong danh mục tín dụng của ngân hàng. Bởi quy mô của mỗi khoản vay thường nhỏ thậm chí không đáng kể song số lượng các khoản vay lại rất lớn. Hơn nữa, việc cập nhật các thông tin cá nhân khó có thể đầy đủ và chính xác. Do vậy, ngân hàng phải thực hiện rất nhiều bước trong quá trình cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân cho đến lúc thu hồi nợ.
Thứ tư, tín dụng cá nhân có mức độ rủi ro cao. Rủi ro trong cho vay đối với khách hàng cá nhân cao hơn cho vay doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ hai nguyên nhân sau: + Rủi ro về lãi suất. Đối với các khoản cho vay kinh doanh, ngân hàng và khách hàng thường có sự thỏa thuận áp dụng mức lãi suất thả nổi, tức là lãi suất được điều chỉnh theo từng kỳ hạn nhất định trong suốt thời hạn cho vay.
Vì vậy, nguy cơ rủi ro về lãi suất đối với cho vay kinh doanh sẽ thấp hơn so với cho vay cá nhân. 123doc 7 + Về cho vay khách hàng cá nhân dễ gặp rủi ro đạo đức. Khả năng hoàn trả vốn vay đối với các khoản cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập của người đi vay. Tuy nhiên, đối với những khách hàng cá nhân có thể do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà họ không thể thực hiện trả nợ hoặc trì hoãn trả nợ, từ đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng.
Nhân tố chủ quan có thể là tình trạng “sức khoẻ” tài chính của người đi vay, công việc làm ăn không tốt … ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tài chính của khách hàng, từ đó giảm khả năng thực hiện trả nợ của khách hàng. Các nhân tố khách quan như hạn hán, mất mùa, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến khả năng mất việc cao… cũng là những nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của khách hàng. Thứ năm, lợi nhuận từ cho vay bán lẻ lớn. Lãi suất của các khoản tín dụng bán lẻ phần lớn đều cao hơn các khoản tín dụng khác của NHTM.
Điều này xuất phát từ các khoản tín dụng bán lẻ có chi phí cao và rủi ro cao nhất trong các loại cho vay của NHTM. Mức lợi nhuận từ trên mỗi khoản tín dụng cá nhân cao, số lượng lớn, vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động này là đáng kể trong tổng thu nhập của NHTM. Vai trò của cho vay bán lẻ tại Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường 2.