Chương 1 VÀI NÉT VỀ TAI BIẾN TỰ NHIÊN TRƯỚC THẾ KỶ XIX 1. Vài nét về tự nhiên Việt Nam Các điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật và những mối quan hệ tác động qua lại, chi phối lẫn nhau giữa chúng. Chính mối quan hệ này là cơ sở tạo ra những điều kiện thuận lợi cũng như đưa đến những vấn đề tai biến tự nhiên.1 Vị trí địa lý Vị trí địa lý của một lãnh thổ là một yếu tố có ý nghĩa rất quan trọng chi phối các đặc điểm tự nhiên của lãnh thổ đó. Trên bản đồ thế giới, Việt Nam nằm ở rìa Đông của bán đảo Đông Dương, gần trung tâm khu vực Đông Nam Á, phía Bắc giáp với Trung Quốc, phía Tây giáp với Lào, Campuchia, phía Đông và phía Nam giáp với Biển Đông.
Lãnh thổ Việt Nam nối liền một dải từ điểm cực Bắc trên cao nguyên Đồng Văn ở vĩ độ 23°23’B thuộc Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang tới điểm cực Nam trên bán đảo Cà Mau ở vĩ độ 8°34’B thuộc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; điểm cực Tây ở kinh độ 102°10’Đ thuộc xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; điểm cực Đông nằm trên bán đảo Hòn Gốm ở kinh độ 109°24’Đ thuộc xã Vạn Hạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Ngoài ra, nước ta còn có vùng biển rộng nằm trên Biển Đông với trên 3000 đảo lớn, nhỏ nằm ở gần bờ và xa bờ. Vì thế, hệ tọa độ địa lý của Việt Nam còn kéo dài tới khoảng vĩ độ hơn 6°50’B và từ khoảng kinh độ 101°Đ đến hơn 117°20’Đ trên Biển Đông. - 13 - z Với hệ tọa độ địa lý trên, Việt Nam nằm hoàn toàn trong vành đai nóng nội chí tuyến ở nửa cầu Bắc và gần sát với chí tuyến Bắc nên có sắc thái chung của tự nhiên vùng nhiệt đới.
Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, là một trong ba hệ thống của khu vực châu Á gió mùa điển hình, với hai mùa rõ rệt, mùa đông là thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc, mùa hạ là thời kỳ hoạt động của gió mùa Tây Nam, tạo nên đặc điểm gió mùa của khí hậu Việt Nam và sắc thái nhiệt đới ẩm. Việt Nam nằm ở vị trí tiếp giáp nối liền lục địa với đại dương, có quan hệ với vành đai sinh khoáng và núi lửa Thái Bình Dương nên có tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng, đồng thời cũng xảy ra các hoạt động núi lửa, động đất. Do nằm ở khu vực biển nhiệt đới Tây Thái Bình Dương, một trong những trung tâm phát sinh bão lớn trên thế giới, nên hàng năm Việt Nam phải đối phó với hàng chục cơn bão, trong đó có nhiều cơn bão có sức tàn phá rất lớn, gây thiệt hại nặng nề trên diện rộng. Địa hình Đặc điểm chung của địa hình Việt Nam là có cấu trúc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, hướng vòng cung là chủ yếu và thấp dần ra biển.
Đặc điểm cấu trúc địa chất – kiến tạo trong lịch sử hình thành và phát triển của tự nhiên đã khiến cho Việt Nam có nhiều đồi núi và có hướng cấu trúc chủ yếu theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Đây cũng là hướng chính của các thung lũng và các đứt gãy như đứt gãy sông Hồng, sông Đà, sông Mã, sông Cả ở miền Bắc, rãnh Nam Bộ ở miền Nam. Ngoài hướng cấu trúc chính Tây Bắc – Đông Nam, địa hình Việt Nam còn có một hướng cấu trúc nữa rất độc đáo là hướng vòng cung. Hướng vòng - 14 - z cung thể hiện rõ nét nhất và trở thành một đặc điểm nổi bật của vùng núi phía đông Bắc Bộ, đó là các dãy núi Tam Đảo như hình nan quạt.
Chính các dãy núi cánh cung có hướng Bắc – Nam và Đông Bắc – Tây Nam này đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho gió mùa Đông Bắc xâm nhập nhanh chóng vào đồng bằng Bắc Bộ, làm cho vùng Đông Bắc Bắc Bộ chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất của gió mùa Đông Bắc và trở thành vùng có khí hậu lạnh nhất Việt Nam về mùa đông. Địa hình Việt Nam có xu thế thấp dần ra biển theo hướng cấu trúc của địa hình và theo các dòng chảy. Hầu hết các sông ngòi trên lãnh thổ Việt Nam đều trực tiếp đổ ra Biển Đông. Địa hình thấp dần ra biển đã tạo điều kiện thuận lợi cho ảnh hưởng của biển thâm nhập vào sâu trong đất liền, trước hết là các luồng gió thổi từ biển vào, gió đất – biển và sự xâm nhập của thủy triều, tạo nên vùng nước lợ, nhiễm mặn và ngập mặn ở vùng ven biển.
Phần lớn địa hình Việt Nam là đồi núi, tuy vậy tính chất phân bậc của địa hình thể hiện khá rõ rệt ở miền núi với nhiều bậc địa hình mà hiện tại là các đỉnh núi, các sơn nguyên tại mỗi bậc có độ cao xấp xỉ như nhau. Các kiểu địa hình chính ở Việt Nam là: địa hình núi, địa hình cao nguyên, địa hình đồi, địa hình đồng bằng và một số kiểu địa hình đặc biệt là cacxtơ, địa hình bờ biển. Địa hình Việt Nam rất tiêu biểu cho địa hình của vùng nhiệt đới ẩm, đó là hiện tượng địa hình bị xâm thực, xói mòn mạnh mẽ do dòng chảy gây lên khiến cho lượng phù sa trên các sông suối tăng lên rất nhanh, nhất là vào thời kỳ mùa mưa. Do đó, những trận lũ ống, lũ quét có sức tàn phá rất lớn thực sự là các tai họa đối với các vùng núi.
Ngoài ra còn phải kể đến hiện tượng đất trượt, sụt lở đất đá, làm biến đổi nhanh chóng bề mặt địa hình. Khí hậu Khí hậu là một trong những nhân tố quyết định bộ mặt của cảnh quan - 15 - z tự nhiên Việt Nam. Cùng với địa hình, khí hậu có tác động đến sự hình thành lớp phủ thổ nhưỡng, thực vật, động vật và chế độ thủy văn, hải văn. Đặc điểm chung của khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có sự phân hóa đa dạng, có diễn biến bất thường.
Khí hậu Việt Nam mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa. Tính chất nhiệt đới của khí hậu thể hiện rõ nét qua yếu tố bức xạ. Lượng bức xạ tổng cộng trung bình năm từ 110 - 130kcal/cm² ở Việt Nam là rất lớn. Nhiệt độ trung bình hằng năm ở hầu hết các vùng trong cả nước là 22 - 25°C, ở Hà Nội là 23,5°C, thành phố Hồ Chí Minh tới 27,1°C.
Tính chất gió mùa là sự biến thiên theo mùa của khí hậu Việt Nam, mà nguyên nhân hình thành chính là do sự luân phiên hoạt động của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam. Trên lãnh thổ Việt Nam, nơi nào cũng có hai mùa, mùa mưa và mùa khô xen kẽ với các mức độ khác nhau, kể cả sự lệch pha của mùa mưa và mùa khô của một số địa phương so với cả nước. Khí hậu Việt Nam có sự phân hóa đa dạng. Trên nền tảng nhiệt đới ẩm gió mùa, sự diễn biến của khí hậu Việt Nam rất phong phú với sự phân hóa không gian đa dạng mà nguyên nhân chính là do đặc điểm của bề mặt đệm.
Khí hậu Việt Nam có sự phân hóa từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây và từ thấp lên cao do lãnh thổ trải dài trên nhiều vĩ độ, kết hợp với tác động của chế độ gió mùa sự phân hóa này được thể hiện rất rõ nét trong chế độ mưa. Việt Nam có lượng mưa trung bình hằng năm khá lớn. Lượng mưa trung bình năm ở đồng bằng là trên 1500 mm, ở các khu vực núi cao tới 2000 – 3000 mm. Tuy nhiên, ở những nơi có địa hình khuất gió, lượng mưa chỉ trên dưới 700 mm.
Những nơi mưa nhiều nhất là các vùng núi cao có địa hình chắn gió. Ở miền Bắc là vùng núi thượng nguồn sông Chảy (Bắc Quang 4802 mm), vùng núi Hoàng Liên Sơn (SaPa 2833 mm). Ở Trung Bộ, trên các đỉnh núi cao của dãy Trường Sơn, lượng mưa còn lớn hơn (Hòn Ba 3751 mm). - 16 - z Những nơi có lượng mưa trung bình là đồng bằng Bắc Bộ và dải đồng bằng miền Trung từ Quảng Ngãi đến Phú Yên (Hà Nội 1676 mm, Quy Nhơn 1692 mm).
Những nơi mưa ít nhất là đồng bằng cực Nam Trung Bộ (Phan Rang 653 mm, Mũi Dinh 757 mm) và các thung lũng ở miền núi như Mường Xén (Nghệ An) lượng mưa hằng năm chỉ có 643 mm. Việt Nam là nước có số ngày mưa trung bình hằng năm khá lớn, từ 100 - 150 ngày. Nét nổi bật trong chế độ mưa là mưa theo mùa. Mùa khô ít mưa, có tháng không có mưa.
Còn mùa mưa thì lượng mưa chiếm tới 80 - 85% lượng mưa cả năm và tháng mưa ít nhất cũng phải từ 100 mm trở lên, tháng mưa nhiều nhất có thể 300 - 600 mm. Và mùa mưa ở Việt Nam diễn ra tại các khu vực có sự khác nhau. Khí hậu Việt Nam có diễn biến rất thất thường. Nguyên nhân chủ yếu của tính chất này là do ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ gió mùa.
Tùy thuộc vào diễn biến từng năm của gió mùa Đông Bắc hay gió mùa Tây Nam mà khí hậu Việt Nam có những biến động khá phức tạp. Tính chất thất thường thể hiện trước hết qua diễn biến và đặc trưng của mùa khí hậu. Có năm gió mùa Đông Bắc hoạt động mạnh, đem đến một mùa đông rét và kéo dài, song có năm gió mùa Đông Bắc hoạt động yếu, gây nên thời tiết nóng đến sớm bất thường. Gió mùa Tây Nam cũng có năm gây mưa nhiều và lũ lớn, có năm lại hoạt động yếu thậm chí gây ra cả hạn hán trong mùa hạ.
Sự biến động trong chế độ mưa luôn xảy ra trên phạm vi toàn lãnh thổ, có những biểu hiện rõ nét và gây nhiều tác hại lớn hơn. Sự bất thường này thể hiện ở sự biến động của lượng mưa hàng năm, lượng mưa từng mùa và lượng mưa trong từng tháng. Sự biến động lượng mưa hằng năm thường được biểu thị bằng tỉ số lượng mưa của năm mưa nhiều nhất với lượng mưa của năm mưa ít nhất. Do tính chất thất thường của chế độ mưa mà việc chống hạn, - 17 - z chống úng ngập thường xuyên phải đặt ra ở mọi nơi và việc tưới tiêu phải được đưa lên thành các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp hàng đầu.
Sự diễn biến thất thường của khí hậu Việt Nam còn được biểu hiện rõ rệt trong hoạt động của bão.