MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài: Lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng: Bất kỳ một đất nƣớc nào muốn đẩy nhanh sự phát triển KT - XH đều phải trải qua quá trình CNH. Ở Việt Nam, Đảng xác định CNH, HĐH là nhiệm vụ trung tâm, xuyên suốt trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Về cơ bản, sự nghiệp CNH, HĐH của Việt Nam đƣợc khởi xƣớng nhằm thực hiện hai nội dung đó là: (i) Thực hiện cuộc cách mạng KHCN, phát triển lực lƣợng sản xuất để xây dựng CSVCKT của nền kinh tế; (ii) Chuyển dịch CCKT và phân công lại lao động xã hội theo hƣớng hợp lý.
Trong điều kiện bối cảnh lịch sử mới, sự nghiệp CNH, HĐH tiếp tục đƣợc thừa nhận nhƣ là tính tất yếu của quá trình xây dựng CSVCKT cho CNXH. Dù dƣới góc độ lý luận, bản thân nội hàm khái niệm “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” vẫn đang đƣợc các nhà khoa học kinh tế nghiên cứu và tranh luận sôi nổi, song trên thực tế đã có nhiều chủ trƣơng, mô hình cụ thể thu đƣợc nhiều kinh nghiệm và thành tựu to lớn. Mô hình phát triển các KCN trên thế giới và ở Việt Nam là một minh chứng thực tiễn sinh động cho quá trình CNH. Gần ba thập kỷ qua, mô hình phát triển các KCN nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH, tạo ra tiền đề vững chắc cho quá trình phát triển lực lƣợng sản xuất trong bối cảnh hội nhập và quốc tế hóa là một chủ trƣơng nhất quán của ĐCSVN.
Các KCN ở Việt Nam đƣợc phát triển về số lƣợng và hiệu quả. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ cả nƣớc hiện có 325 KCN đƣợc thành lập trên tổng số 461 KCN có trong quy hoạch với diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 63,6 nghìn héc - ta, vốn đầu tƣ đăng ký 111,4 tỷ USD, giải quyết việc làm cho khoảng 2,8 triệu lao động (Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, 2016). Trong Chiến lƣợc phát triển KT - XH giai đoạn 2011 - 2020, Đảng ta nhấn mạnh: “Phát huy hiệu quả của các khu, cụm công nghiệp và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn và hiệu quả cao.Thực hiện phân bố công nghiệp hợp lý trên toàn lãnh thổ, bảo đảm phát triển cân đối và hiệu quả giữa các vùng” (ĐCSVN, 2011, Tr. Chủ trƣơng này đã, đang và sẽ chi phối, tác động đến quá trình phát triển các KCN của các địa phƣơng trong cả nƣớc.
Bình Dƣơng là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ nằm trong vùng KTTĐPN. Trong hơn 20 năm, từ ngày tái lập tỉnh (01/01/1997) đến nay, Bình Dƣơng luôn là địa phƣơng dẫn đầu trong phát triển kinh tế trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của các 2 KCN. Sự phát triển các KCN và sức lan tỏa của nó đã làm thay đổi diện mạo và sức sống KT - XH của tỉnh. Kinh tế tăng trƣởng nhanh, CCKT chuyển dịch theo hƣớng hiện đại, giải quyết việc làm trực tiếp và đảm bảo thu nhập ổn định cho khoảng 373.000 lao động trong và ngoài tỉnh, tốc độ đô thị hóa nhanh, hệ thống cơ sở hạ tầng, các thiết chế, thể chế kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển khá đồng bộ.
Bình Dƣơng trở thành điểm sáng, địa phƣơng dẫn đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH của đất nƣớc. Tuy nhiên, đối lập với những đóng góp tích cực vào sự phát triển KT - XH của tỉnh thì sự phát triển các KCN còn chứa đựng trong nó những tác động ngoài mong muốn. Dƣới tác động của các KCN thì quá trình CDCCKT còn bộc lộ những bất cập; vấn đề việc làm, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân, đặc biệt là công nhân ngoài tỉnh còn gặp nhiều khó khăn và thiếu tính bền vững; sự phát triển nóng hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội trong và ngoài KCN đã làm xáo trộn cuộc sống của một bộ phận ngƣời dân, nguy cơ đe dọa trật tự xã hội gia tăng song hành với vấn nạn ô nhiễm môi trƣờng. Đặc biệt từ sau khủng hoảng tài chính, kinh tế 2008 đến nay, những hạn chế nói trên cùng với hệ quả trực tiếp của khủng hoảng kinh tế đã làm cho tốc độ phát triển, sức lan tỏa của các KCN trên địa bàn có dấu hiệu chững lại, một số chỉ tiêu phát triển thiếu vững chắc và tiềm ẩn những thách thức mới.
Có thể khái quát những hạn chế nói trên thông qua mấy vấn đề dƣới góc độ nghiên cứu đó là: - Tƣ duy đổi mới, năng lực quản lý nhà nƣớc chƣa thực sự trở thành nhân tố đột phá trong phát triển các KCN, nhất là trong vấn đề quy hoạch. Chất lƣợng quy hoạch, triển khai quy hoạch chƣa triệt để, việc xây dựng quy hoạch phát triển KCN một số nội dung chƣa thống nhất, đồng bộ với quy hoạch phát triển KT - XH nói chung, chƣa phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế của các địa phƣơng trong toàn tỉnh; - Năng lực tài chính, kinh nghiệm hoạt động của một số chủ đầu tƣ nội địa trong xây dựng kết cấu hạ tầng chƣa đủ mạnh, cộng với những rào cản trong cơ chế, chế tài của địa phƣơng và trung ƣơng nên tiềm năng và lợi thế chƣa phát huy đƣợc ở mức cao nhất. Thực tế còn xuất hiện nhiều KCN triển khai chậm, thu hút đầu tƣ thấp, mất cân đối trong đầu tƣ. Có những KCN cơ sở hạ tầng tốt, đồng bộ song tỉ lệ lấp đầy các doanh nghiệp thấp, gây lãng phí đầu tƣ và ngƣợc lại có những KCN tỉ lệ lấp đầy cao, hoạt động sản xuất hiệu quả song cơ sở hạ tầng xuống cấp chƣa đƣợc mở rộng, bổ sung đầu tƣ kịp thời; 3 - Phát triển các KCN, đồng thời với nó là quá trình thu hút lao động trong và ngoài tỉnh vào làm việc trong các KCN.
Sức ép từ quá trình thu hút lao động đã làm phát sinh nhiều nhu cầu xã hội cần giải quyết, đó là: vấn đề nhà ở cho công nhân, điều kiện sinh hoạt, giải trí và các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng; - Phát triển các KCN ở Bình Dƣơng đặt trong mối tƣơng quan với vùng KTTĐPN và của toàn bộ nền kinh tế cả nƣớc, nó tác động đến CDCCKT, lao động, thu nhập. Dù vậy, khả năng liên kết vùng, thậm chí là khả năng liên kết giữa các KCN trong tỉnh còn nhiều hạn chế; - Vấn đề bảo vệ môi trƣờng bao gồm các hoạt động quản lý và xử lý chất thải của các KCN, điều kiện làm việc, an toàn lao động, môi trƣờng sống xung quanh KCN đang bị đe dọa, chứa đựng những nhân tố thiếu bền vững. Trên cơ sở lƣợc khảo các nghiên cứu, tác giả thấy rằng đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đề cập đến mô hình KCN với tƣ cách là đối tƣợng của các lĩnh vực khoa học khác nhau. Song nghiên cứu sâu về sự phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng thì chƣa có, nên việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tác động của KCN đối với sự phát triển KT - XH ở Bình Dƣơng là cần thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Để các KCN ở Bình Dƣơng phát triển và phát triển bền vững, đóng góp tích cực hơn nữa sự phát triển KT - XH của địa phƣơng và cả nƣớc, Nghiên cứu sinh chọn đề tài “Tác động của các khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến Luận án 2. Những công trình nghiên cứu dƣới dạng tổng kết lý luận, thực tiễn mô hình phát triển các khu công nghiệp trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam Mô hình KCN với tƣ cách là một khu vực tập trung nhiều nhà máy công nghiệp đã hình thành ở Việt Nam khá sớm. Ở Hà Nội từ những năm 1960 đã thành lập các KCN ở Thƣợng Đình, Văn Điển - Pháp Vân, Cầu Bƣơu - Giáp Bát, Trƣơng Định, Minh Khai - Vĩnh Tuy - Mai Động, Đức Giang - Cầu Đuống, Chèm - Đông Anh, Cầu Diễn - Mai Dịch, Hà Đông, Thạch Thất, Quốc Oai.
Ở miền Nam dƣới chế độ cũ, một số KCN (hay khu kỹ nghệ theo cách gọi khi đó) đã đƣợc thành lập nhƣ An Hòa (ở Quảng Nam), Biên Hòa (Đồng Nai), Hòa Khánh (Đà Nẵng).Miền Nam Việt Nam còn thành lập Công ty Quốc gia Khuyếch trƣơng Khu kỹ nghệ với chức năng phát triển KCN (Nguyễn Bình Giang, 2012). Từ 1986, Việt Nam tiến 4 hành sự nghiệp đổi mới, các nguồn vốn đầu tƣ đƣợc thu hút vào. Việc hình thành và phát triển các KCN với các chính sách hỗ trợ về hạ tầng và các ƣu đãi tài chính là một giải pháp cần thiết. Sự phát triển các KCN của Việt Nam trở thành thực tiễn sinh động và phong phú cho các nhà khoa học, những nghiên cứu viên trên các lĩnh vực “dấn thân”.
Những đề tài nghiên cứu về KCN dƣới dạng tổng kết lý luận và thực tiễn ở trong nƣớc rất phong phú và đa dạng, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu nhƣ: Tác giả VS. Nguyễn Chơn Trung và PGS. Trƣơng Giang Long (2004); GS. TS Võ Thanh Thu (2006) khẳng định tính đúng đắn và tất yếu phải phát triển mô hình KCN ở Việt Nam, là một biện pháp để CNH, HĐH đất nƣớc.
Theo đó, sau hơn 15 năm hình thành, xây dựng và phát triển các KCN, KCX đã trở thành không gian kinh tế để thu hút đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, giải quyết và ổn định việc làm, nâng cao thu nhập cho một lƣợng lớn lao động. Các nghiên cứu đã đánh giá triển vọng và thách thức, thực trạng, định hƣớng, chính sách và giải pháp phát triển các KCN ở Việt Nam trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế quốc tế. Tác giả Nguyễn Quốc Bình (2005) khẳng định KCN là một mô hình hiện thực đóng góp những vai trò nhất định trong quá trình đổi mới đất nƣớc. Những vai trò đó là: thu hút các nguồn vối đầu tƣ; tiếp nhận công nghệ và quản lý đến từ các nƣớc công nghiệp hiện đại; giải quyết việc làm; tăng giá trị xuất khẩu; góp phần tăng năng suất và đẩy nhanh sự phát triển KT - XH; thúc đẩy phát triển đô thị, bảo vệ môi trƣờng và góp phần giữ gìn an ninh, trật tự.