chương 1, tác giả đã trình bày các vấn đề cơ bản của đề tài nghiên cứu, nêu lên tính cấp thiết và làm rõ lý do chọn đề tài, đồng thời trình bày các mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phương pháp, ý nghĩa đóng góp và kết cấu của nghiên cứu. Đề tài được thực hiện trên mẫu gồm 125 công ty trong nhóm ngành công nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 10 năm từ 2012-2021 để xem xét về sự tác động của tài sản cố định lên giá trị doanh nghiệp. 8 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Giá trị doanh nghiệp 2.
Khái niệm giá trị doanh nghiệp Quan điểm về giá trị doanh nghiệp được định nghĩa theo nhiều góc độ khác nhau. Theo học thuyết Mác, giá trị doanh nghiệp là giá trị của toàn bộ các tài sản (hữu hình và vô hình) thuộc quyền sở hữu hiện tại của doanh nghiệp. Trong khi đó, các nhà kinh tế học lại cho rằng giá trị doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản lợi ích hay thu nhập mà doanh nghiệp có thể thu được trong tương lai. Giá trị doanh nghiệp là một trong những thước đo đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, là giá trị mà nhà đầu tư sẵn sàng chi trả nguồn vốn của mình để nắm giữ cổ phiếu của doanh nghiệp.
Các bài nghiên cứu trước đây đã phát biểu khái niệm giá trị doanh nghiệp bằng nhiều cách khác nhau. Giá trị công ty là nhận thức của nhà đầu tư về công ty liên quan tới giá cổ phiếu. Bandanuji & Khoiruddin (2020) cho rằng giá trị công ty là giá bán của công ty khi công ty được bán. Trong khi đó, Yawen Jiao (2010) phát hiện phúc lợi của cổ đông có thể được sử dụng như một mô tả về giá trị của công ty, giá trị doanh nghiệp của công ty cho thấy hiệu quả hoạt động của công ty tốt như thế nào.
Mục tiêu dài hạn của mỗi doanh nghiệp khi thành lập là nâng cao giá trị công ty của mình, tăng cường sự thịnh vượng của chủ sở hữu và các bên liên quan (Sunarsih & cộng sự, 2019). Giá trị doanh nghiệp còn được sử dụng trong việc thẩm định, định giá doanh nghiệp, mô hình tài chính, kế toán, phục vụ trong công tác học tập, nghiên cứu… Xác định giá trị doanh nghiệp cho chúng ta cái nhìn tổng quát, một bức tranh về doanh nghiệp trong điều kiện nhất định mà họ mong muốn đạt được, là cơ sở quan trọng giúp các đối tượng sử dụng thông tin để đưa ra các quyết định đúng đắn, hợp lý (Sunarsih & cộng sự, 2019). Cụ thể, thông qua việc xác định giá trị doanh nghiệp giúp nhà quản lý định vị được giá trị của công ty mình trên thị trường, đánh giá một cách khách quan về tình hình hoạt động chung của công ty để có những giải pháp cải tiến quản lý, điều hành cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, kiểm soát lợi nhuận và tìm kiếm các cơ hội phát triển tiềm năng. Một trong những nhiệm vụ của 9 ban quản lý công ty là tăng lợi ích cho các cổ đông, do đó việc tạo ra giá trị phải được ưu tiên để giúp doanh nghiệp nâng cao lợi thế cạnh tranh (Sucuahi & Cambarihan, 2016).
Đối với người sử dụng thông tin là bên thứ ba, các nhà đầu tư và chủ sở hữu tiềm năng khi nhìn vào giá trị doanh nghiệp có thể định giá được cổ phiếu mình đang quan tâm từ đó có thể đưa ra quyết định tốt hơn về việc mua cổ phiếu (Sibon & Pourali, 2015). Hay các tổ chức trung gian có thể căn cứ vào đó để xác định phạm vi hạn mức cấp tín dụng cho doanh nghiệp (Titman & Wessels, 1988), cung cấp thông tin cho các hoạt động quản lý kinh tế vĩ mô,… Ngoài ra, xác định giá trị doanh nghiệp còn là cơ sở phục vụ trong các hình thức phát hành trái phiếu lần đầu, mua bán, chuyển nhượng, sáp nhập, chia tách, giải thể, thanh lý,… các doanh nghiệp. Bởi giá trị doanh nghiệp có thể được hiểu là giá trị kỳ vọng của khoản đầu tư của cổ đông về tổng giá trị của công ty. Một số phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp Trong lĩnh vực tài chính, giá trị doanh nghiệp có thể đo lường thông qua một số phương pháp sau: Phương pháp tài sản: Phương pháp tài sản là phương pháp mà giá trị doanh nghiệp được xác định trên cơ sở tổng giá trị các tài sản hiện có bao gồm tài sản cố định, tài sản không vật chất, và các tài sản khác mà doanh nghiệp sở hữu.
Tổng giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp có thể được xác định dựa vào số liệu sổ sách kế toán trên bảng cân đối kế toán hoặc dựa vào giá trị tài sản hiện có được đánh giá lại theo giá trị thị trường tại thời điểm định giá. Theo đó giá trị của vốn chủ sở hữu được tính bằng giá trị thị trường của toàn bộ tài sản trừ giá trị thị trường của nợ. Phương pháp tài sản được nhận định là đơn giản, dễ thực hiện, không đòi hỏi những kỹ năng tính toán phức tạp, tuy nhiên phương pháp này lại không đánh giá toàn diện về giá trị doanh nghiệp do khó khăn và không tập trung vào định giá các tài sản phi vật chất có khả năng tạo ra lợi nhuận trong tương lai. Phương pháp chiết khấu dòng tiền: 10 Phương pháp chiết khấu dòng tiền được nhà kinh tế học người Mỹ Williams (1938) đưa ra trong công trình nghiên cứu của mình về lý thuyết giá trị đầu tư, một cách tiếp cận mới để định giá các tài sản dựa trên giá trị hiện tại của các dòng tiền thu được từ tài sản đó trong tương lai, ông nhấn mạnh rằng giá trị của một tài sản nên dựa trên khả năng tạo ra dòng tiền thu được trong tương lai thay vì chỉ dựa trên giá trị hiện tại hoặc lợi nhuận.
Sau đó, phương pháp này đã được phát triển và rất được ưa chuộng trong lĩnh vực tài chính. Nó đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc định giá doanh nghiệp, các dự án đầu tư và các cổ phiếu trên thị trường tài chính. Phương pháp chiết khấu dòng tiền dựa trên giả định rằng giá trị của một doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng tạo ra lợi nhuận trong tương lai và giá trị của lợi nhuận này phải được điều chỉnh theo mức độ rủi ro và thời gian. Bằng cách dự báo và chiết khấu các dòng tiền thu được từ doanh nghiệp, dòng tiền chiết khấu giúp xác định giá trị hiện tại của doanh nghiệp và đưa ra quyết định đầu tư hoặc định giá phù hợp.
Mặc dù phương pháp chiết khấu dòng tiền giúp tiếp cận chính xác hơn về giá trị cốt lõi của doanh nghiệp nhưng nó lại nhạy cảm với các giả định bởi các dự báo này có thể không chính xác hoặc có sự biến đổi trong thực tế, làm cho kết quả định giá không chính xác, ngoài ra dự báo dòng tiền trong tương lai là một thách thức, đặc biệt đối với các doanh nghiệp mới, doanh nghiệp có mô hình kinh doanh phức tạp. Phương pháp tỷ số so sánh: Phương pháp tỷ số so sánh là một phương pháp định giá giá trị doanh nghiệp mà trong đó giá trị doanh nghiệp được xác định dựa trên giá trị tương đối so với các doanh nghiệp tương tự trên thị trường có tương đồng về các yếu tố: quy mô, ngành nghề kinh doanh chính, rủi ro kinh doanh, tài chính, các chỉ số tài chính hoặc giá giao dịch đã thành công của chính doanh nghiệp cần định giá. Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiên, giúp định giá căn cứ trên thông tin thực tế và cụ thể từ thị trường nhưng lại không xem xét yếu tố tương lai và có thể gặp khó khăn trong việc tìm kiếm mẫu các công ty tương đồng để so sánh. Phương pháp tỷ số bình quân và phương pháp giá giao dịch là hai phương pháp phổ biến từ cách tiếp cận thị trường.
11 Trong đó, phương pháp tỷ số bình quân ước tính giá trị vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp cần định giá thông qua tỷ số thị trường trung bình của các doanh nghiệp so sánh, ít nhất là ba doanh nghiệp, ưu tiên các doanh nghiệp đã niêm yết trên sàn chứng khoán hoặc đăng ký giao dịch trên sàn Upcom. Các tỷ số thị trường thường được xem xét sử dụng bao gồm: tỷ số giá trên thu nhập bình quân (P/E), tỷ số giá trên doanh thu bình quân (P/S), tỷ số giá trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu bình quân (P/B), tỷ số giá trị doanh nghiệp trên lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao bình quân (P/EBITDA),. Về phương pháp giá giao dịch, gía trị vốn chủ sở hữu cần được thẩm định giá được tính theo giá bình quân theo khối lượng giao dịch của ít nhất ba giao dịch thành công của việc chuyển nhượng phần vốn góp hoặc cổ phần gần nhất trước thời điểm thẩm định giá. Tài sản cố định 2.
Khái niệm và đặc điểm của tài sản cố định Trong chu trình sản xuất kinh doanh có thể xem tài sản cố định giữ vai trò là tư liệu lao động chủ yếu của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng trong hoạt động kinh doanh, là điều kiện tăng năng suất lao động xã hội và phát triển nền kinh tế quốc dân. Hiện nay, TSCĐ được định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau, theo các nhà nghiên cứu cho rằng TSCĐ là bộ phận tài sản của DN, có giá trị lớn, phục vụ sản xuất trong một thời kỳ dài theo mức độ hao mòn. TSCĐ là những tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát lâu dài của DN, được phát sinh từ các sự kiện trong quá khứ và chắc chắn thu được lợi ích kinh tế từ việc sử dụng tài sản đó. Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 16 – Tài sản, nhà máy và thiết bị , IAS 38 – Tài sản cố định vô hình (TSCĐVH)) nêu rằng TSCĐ là những tài sản phải thỏa mãn đồng thời hai tiêu chuẩn: Giá trị của tài sản đối với DN có thể được xác định một cách đáng tin cậy và chắc chắn DN sẽ thu được lợi ích kinh tế trong tương lai do sử dụng tài sản đó.
Tiêu chuẩn thứ nhất đề cập đến bằng chứng chứng minh cho việc xác định nguyên giá của TSCĐ. Tiêu chuẩn thứ hai hàm ý thông qua việc sử dụng tài sản, DN nhận được các lợi ích hoặc gánh chịu các rủi ro liên quan tới tài sản trên cơ 12 sở các bằng chứng tại thời điểm ghi nhận ban đầu.