Chương 1: Yêu cầu điều chỉnh pháp luật đối với việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Chương 2: Một số vấn đề pháp lý trong bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp. Chương 3: Khảo cứu về một số tác động của Luật Doanh nghiệp trên thực tế. Chương 4: Một số kiến nghị về hoàn thiện pháp luật và cơ chế thi hành.
Tóm tắt và kết luận Lê Mạnh Hoàn – Cao học Luật Khoá VIII 4 z Tác động của Luật Doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế nông thôn Lê Mạnh Hoàn – Cao học Luật Khoá VIII 5 z Tác động của Luật Doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế nông thôn CHƢƠNG 1 YÊU CẦU ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1. Nguyên tắc pháp lý cho hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng Trong nền kinh tế thị trường, để hoạt động hiệu quả và khai thác được mọi tiềm năng, nguồn lực của xã hội, các doanh nghiệp cần có một khung khổ, hành lang pháp lý minh bạch, phù hợp. Chính vì vậy, nguyên tắc pháp lý cho hoạt động của các doanh nghiệp là một nguyên tắc vô cùng quan trọng. Thực tiễn ở Việt Nam và một số nước trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc trong thời gian qua cho thấy vai trò của các chính sách của Đảng và Nhà nước giữ vai trò định hướng cho sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp nói chung và của xã hội nói riêng; tuy nhiên, hiệu quả tối ưu sẽ được tạo ra nếu các chính sách đó được thể chế hoá thành các đạo Luật cụ thể.
Đây là một đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế thị trường và cũng là yêu cầu bắt buộc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam giai đoạn hiện nay. Pháp luật có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp vì nó biến nhu cầu kinh doanh thành một quyền pháp định. Hơn nữa, pháp luật thể chế hoá quyền tự do kinh doanh thông qua xác lập và đảm bảo thực hiện, tạo điều kiện, tiền đề cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh. Sự khác nhau giữa kinh tế kế hoạch hoá tập trung và kinh tế thị trường là ở chỗ xác định cơ cấu sở hữu tư liệu sản xuất trong xã hội.
Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, pháp luật chỉ thừa nhận sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể nên trong nền kinh tế nuớc ta về cơ bản chỉ có hai thành phần kinh tế; đó là kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể. Lê Mạnh Hoàn – Cao học Luật Khoá VIII 6 z Tác động của Luật Doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế nông thôn Thành phần kinh tế Nhà nước bao gồm các tổ chức kinh tế thuộc các ngành kinh tế quốc dân do Nhà nước đầu tư vốn và quản lý, chủ yếu là các doanh nghiệp, các xí nghiệp quốc doanh thuộc sở hữu Nhà nước. Thành phần kinh tế tập thể bao gồm các tổ chức kinh tế được thành lập dưới mô hình các hợp tác xã trên cơ sở tự nguyện góp vốn của các thành viên, quyền sở hữu vốn thuộc về tập thể các thành viên tham gia góp vốn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp trên được điều chỉnh bằng các chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước.
Điều này được lý giải bởi sự đơn điệu trong chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế, và cũng là nguyên nhân dẫn đến vai trò vô cùng mờ nhạt của sự điều chỉnh bằng pháp luật kinh tế giai đoạn này. Từ năm 1986, nhất là vào đầu những năm 1990 đến nay, thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, các thành phần kinh tế ở Việt Nam, nhất là kinh tế tư nhân phát triển ngày càng mạnh mẽ, đạt được những thành tựu quan trọng và khẳng định vai trò của mình trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Phát triển kinh tế nhiều thành phần là giải pháp chính giải phóng lực lượng sản xuất toàn xã hội, thu hút nguồn lực trong dân cư vào sản xuất, kinh doanh. Việc công nhận kinh tế tư nhân và sở hữu tư nhân cũng như quyền tự do kinh doanh là một phần tất yếu và là nguyên tắc của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường.
Kinh nghiệm ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, các thành phần kinh tế sẽ tồn tại lâu dài trong nền kinh tế thị trường. Sự phát triển đa dạng của các thành phần kinh tế sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển hoàn thiện, không mất cân đối, điều chỉnh kịp thời quan hệ cung cầu trên thị trường. Các nhà kinh tế học đều khẳng định rằng: kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Trong lịch sử, chủ nghĩa tư bản là phương thức sản xuất đầu tiên biết tổ chức nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường và đạt được những thành công không thể phủ nhận.
Ngày nay, kinh tế thị trường được xác định là thành công chung của nhân loại. Để hình thành Lê Mạnh Hoàn – Cao học Luật Khoá VIII 7 z Tác động của Luật Doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế nông thôn và phát triển nền kinh tế thị trường, việc công nhận, bảo hộ chế độ đa sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân và phát triển các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, do các doanh nghiệp luôn là những chủ thể của nền kinh tế. Quyền được bảo đảm sở hữu đối với tài sản có tác động tích cực, mạnh mẽ đến các quyền tự do khác như: tự do thành lập doanh nghiệp, tự do hợp đồng, tự do cạnh tranh v.v… Mặt khác, quyền sở hữu tư liệu sản xuất đã tác động tích cực, làm đa dạng, phong phú thêm các loại hình doanh nghiệp. Từ những phân tích trên, có thể khẳng định việc thể chế hoá các đường lối chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần nói chung và các loại hình doanh nghiệp dân doanh nói riêng bằng các đạo Luật cụ thể là một nguyên tắc mang tính khách quan, tất yếu và là cơ sở của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường.
Các đạo Luật này sẽ tạo ra một hành lang pháp lý thông thoáng, bình đẳng cho sự phát triển giữa các thành phần kinh tế, giúp khai thác triệt để mọi tiềm năng, nguồn lực của xã hội. Đây cũng chính là nguyên tắc pháp lý cho hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Để hoàn thành vai trò là động lực cho sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp, pháp luật cần phải tạo ra được môi trường thuận lợi, bình đẳng để các thành phần kinh tế phát huy hết tiềm năng, phải bảo đảm được quyền tự do kinh doanh và sự đa dạng về sở hữu trong thực tế. Muốn vậy, pháp luật cần phải được tiếp tục hoàn thiện để tránh sự chồng chéo, bất hợp lý giữa các văn bản; hướng tới thống nhất việc ban hành các đạo Luật theo phạm vi cần điều chỉnh chứ không theo chủ thể cần điều chỉnh.
Sớm tạo lập một hệ thống pháp luật chung, bình đẳng và không phân biệt hình thức sở hữu; đặt các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế vào một “sân chơi” chung, đảm bảo sự công bằng trong việc gia nhập thị trường và tôn trọng quyền tự do kinh doanh đã được ghi nhận trong Hiến pháp và các chủ trương, đường lối của Đảng. Lê Mạnh Hoàn – Cao học Luật Khoá VIII 8 z Tác động của Luật Doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế nông thôn 2. Phát triển doanh nghiệp Hƣơng trấn và kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật ở Trung quốc 2.1 Phát triển doanh nghiệp Hương trấn ở Trung quốc Trung Quốc, với khoảng 75% dân cư sống ở nông thôn, được coi là một trong những nước rất chú trọng phát triển kinh tế và công nghiệp nông thôn. Vào năm 1978, khi Trung Quốc tiến hành cải cách kinh tế, khoảng 30% dân số thuộc diện nghèo khổ [64], rút kinh nghiệm phát triển công nghiệp trước đây, Trung Quốc chủ trương thực hiện một chương trình hành động lâu dài với mục tiêu là phát triển mạnh mẽ công nghiệp theo hướng phân tán ở các vùng nông thôn, và việc phát triển các doanh nghiệp Hương trấn.
Quá trình này đồng thời cũng được xem là quá trình tăng trưởng mạnh mẽ tiềm lực khoa học công nghệ ở nông thôn và thiết lập hệ thống kinh doanh hai tầng: kinh doanh phân tán của các hộ nông dân và kinh doanh thống nhất của kinh tế tập thể. Đây là sự đổi mới cơ chế quản lý và kinh doanh theo hướng tự do hoá đời sống kinh tế. Các doanh nghiệp Hương trấn được hình thành trong các công xã nhân dân trước đây. Hình thức công xã ở Trung quốc cũng giống như các hợp tác xã nông nghiệp và nhà máy do các địa phương quản lý [66].
Tuy nhiên, sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp Hương trấn ở Trung Quốc và các xí nghiệp địa phương ở nước ta có nhiều điểm khác nhau: - Điều kiện hình thành và phát triển của chúng Nếu như các xí nghiệp địa phương của Việt Nam được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn ngân sách, do các cơ quan chủ quản theo dõi và quản lý khá chặt chẽ trong suốt thời kỳ bao cấp thì ở Trung Quốc, các doanh nghiệp Hương trấn thường là các cơ sở sản xuất của các công xã, được đầu tư bằng nguồn vốn tích luỹ của các công xã (mà quy mô nhiều khi cũng tương đương với nhiều xã, thậm chí cả với huyện của ta) kết hợp với vốn góp của tư nhân, nên có quyền tự chủ khá cao và hoạt động theo cơ chế thị trường khá sớm, Lê Mạnh Hoàn – Cao học Luật Khoá VIII 9 z Tác động của Luật Doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế nông thôn thậm chí còn trước cả khi Trung Quốc tiến hành cải cách kinh tế. Hơn nữa, tuy ở những cấp tương đương trong hệ thống tổ chức, nhưng thực tế, quy mô và tiềm lực của các doanh nghiệp Hương trấn ở Trung Quốc lớn hơn rất nhiều so với các xí nghiệp địa phương ở nước ta. - Nguyên tắc hoạt động (i) Các doanh nghiệp Hương trấn đã được phép giữ lại lợi nhuận và tăng năng suất đáng kể nhờ tái đầu tư. (ii) Ban đầu họ được hưởng những điều kiện thuận lợi về thuế, được vay vốn của các hợp tác xã tín dụng.