CHƯƠNG 1 Trong chương 1 luận văn đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu “Tác động của CTV đến HQHĐ của NHTMVN”. Trong đó, trình bày được lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi, đối tượng và phạm vi, phương pháp và đóng góp của nghiên cứu. Cuối cùng là tóm lượt kết cấu của luận văn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu 2. Khái niệm CTV của NHTM Cấu trúc vốn (capital structure) còn gọi là cơ cấu nguồn vốn, là thuật ngữ phản ánh mối quan hệ giữa các nguồn tài trợ khác nhau cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thường là nhấn mạnh đến tỷ lệ giữa nợ phải trả và VCSH tài trợ cho toàn bộ tài sản được đầu tư (Brigham và Houston, 2009; Brealey và cộng sự, 2008; Nguyễn Minh Kiều, 2006; Vũ Duy Hào và cộng sự, 1997). Hay cách nói khác: CTV là các chỉ tiêu đo lường tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn hình thành nên trong tổng nguồn vốn của các DN, NHTM. Đối với DN phi tài chính, nguồn vốn bao gồm nhiều nguồn tài trợ khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là nợ phải trả và vốn CSH.
Nợ phải trả là số tiền mà DN có trách nhiệm và nghĩa vụ phải trả, căn cứ vào thời gian thanh toán mà được chia thành: nợ NH và nợ DH. Nợ NH là một nghĩa vụ nợ hay khoản nợ mà DN có trách nhiệm chi trả, thanh toán trong vòng một năm. Nợ DH ghi nhận nghĩa vụ phải trả nợ gốc và lãi mà người đi vay phải trả, thanh toán thời gian từ 12 tháng trở lên. Vốn CSH là các nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của chủ các NHTM cổ phần, tổ chức kinh tế, các cổ đông trong các công ty.
Thành phần của vốn CSH bao gồm: lợi nhuận giữ lại chưa phân phối, vốn góp cổ phần thường, chênh lệch đánh giá lại tài sản, các quỹ, nguồn kinh phí, thặng dư vốn cổ phần,. Dưới đây ta xem xét sự khác biệt giữa CTV của NHTM và các DN thông thường khác: 7 Bảng 2.1: Cấu trúc nguồn vốn của NHTM và DN NGUỒN VỐN NGÂN HÀNG NGUỒN VỐN DOANH NGHIỆP BCĐKT-Mẫu số B02-TCTD BCĐKT-Mẫu số B01-DN NỢ PHẢI TRẢ NỢ PHẢI TRẢ I. Các khoản nợ NHNN và Chính phủ I. Nợ ngắn hạn II.
Huy động liên ngân hàng II. Nợ dài hạn III. Các công cụ tài chính phái sinh và các khoản nợ tài chính khác V. Vốn tài trợ, cho vay TCTD chịu rủi ro, ủy thác đầu tư VI.
Phát hành giấy tờ có giá VII. Các khoản nợ khác VỐN CSH VỐN CSH I. Vốn của TCTD I. Vốn CSH II.
LNST chưa phân phối, các quỹ, vốn khác II. Nguồn kinh phí và quỹ khá (Trích TT200/2014/TT/BTC-Mẫu B01/DN và TT22/2017/TT/NHNN-B02/TCTD) Trong BCĐKT của các ngân hàng thì nguồn vốn cũng phản ánh nguồn hình thành tài sản có tại thời điểm lập BCTC của NHTM, được chia thành nợ phải trả và nguồn VCSH, qua đó nhằm đánh giá khả năng huy động vốn của NHTM. Đặc biệt, riêng phần nợ phải trả của ngân hàng trong BCĐKT không chia thành nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn giống như trong BCĐKT của DN thông thường. Nguyên do là 8 vì phần lớn nợ phải trả của ngân hàng được đảm bảo là đều có thể thực hiện ngay khi phát sinh.
Những lý thuyết về CTV của DN có thể được dùng để phân tích CTV của NHTM. Tuy nhiên, CTV giữa ngân hàng và các DN phi tài chính cũng có những điểm khác biệt như bảng trên. Như vậy, nhìn CTV của ngân hàng như bảng 2.1 nêu trên ta thấy được đối với nợ phải trả thay vì trình bày theo thứ tự thời hạn thanh toán của nghĩa vụ nợ như đối với của các DN thì các khoản nợ phải trả của NHTM được phân loại “theo bản chất và xắp xếp theo tính thanh khoản tương ứng với kỳ đáo hạn của chúng và nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn của ngân hàng không được trình bày riêng biệt vì phần lớn tài sản và nợ phải trả của ngân hàng có thể được thực hiện hoặc thanh toán trong tương lai gần”. TGKH chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn của ngân hàng, được chia thành TGKH có kỳ hạn và không có kỳ hạn.
Số lượng khách hàng gửi tiền của NHTM rất lớn, nên lượng TGKH này bị rút ra có thể được bù đắp ngay bằng khoản TGKH khác đưa vào, do đó lượng TGKH thường ít biến động. Khả năng thanh khoản của NHTM chỉ bị suy giảm khi khách hàng rút tiền gửi đồng loạt (hiệu ứng domino hay hiệu ứng đám đông), khi đó ngân hàng sẽ gặp khó khăn cân đối khả năng chi trả. Một số chỉ tiêu đo lường CTV Trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng CTV của các NHTMVN đại diện bởi tỷ lệ các khoản nợ: TGKH và nợ phi TGKH (NONDEP). Trong đó, tiền gửi được tác giả bóc tách thành các nhóm: TGKH dưới 3 tháng (SDEP1), từ 3 đến 12 tháng (SDEP2), TGKH dưới 12 tháng (SDEP), TGKH từ 12 tháng đến 60 tháng (MDEP), TGKH trên 12 tháng (MLDEP).
Nợ phi TGKH được đề cập đến trong nghiên cứu này là tổng nợ phải trả loại trừ tổng TGKH gồm: Các khoản nợ Chính phủ và NHNN, Huy động liên ngân hàng, các khoản nợ tài chính và các công cụ tài chính phái sinh khác, Vốn tài trợ, cho vay TCTD có chịu rủi ro, ủy thác đầu tư, phát hành giấy tờ có giá và các khoản nợ khác phát sinh trong kinh doanh,… 9 Vì vậy, trong nguồn vốn của NHTM thì ngoài VCSH, thì nợ phải trả chiếm tỷ lệ hơn 90% tổng nguồn vốn của NHTM, TGKH chiếm hơn 60% tổng nguồn vốn của NHTM. Theo Rose (1999) cho rằng tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của Ngân hàng và là khoản mục duy nhất trên bảng cân đối kế toán giúp phân biệt Ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác. Do đó, nghiên cứu này sử dụng các biến CTV là tỷ lệ TGKH bóc tách nhiều kỳ hạn khác nhau và tỷ lệ nợ phi TGKH trên TTS làm đại diện, xem như bao phủ toàn bộ Nợ phải trả của NHTM để xem mức độ tác động đến HQHĐ của NHTMVN. NHTM thường có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao, đây là nét riêng của ngành.
Trung bình vào khoảng hơn 87% giá trị thị trường và khoảng 93% giá trị sổ sách (Gropp và Heider, 2010). Đối với những DN phi tài chính thì tỷ lệ này thấp hơn nhiều, lần lượt là 23% và 24%. Ngoài ra, ngân hàng buộc có mức vốn tối thiểu theo quy định nhưng hầu hết là nắm giữ nhiều nguồn vốn dồi dào hơn (Berlin, 2011). Một số chỉ tiêu phổ biến để phản ánh CTV của các NHTM như tỷ lệ vốn CSH trên TNV (cho biết mức độ tự tài trợ cho nguồn vốn của ngân hàng bằng VCSH), tỷ lệ nợ phải trả trên VCSH (cho biết mức độ đảm bảo cho các khoản nợ phải trả bằng vốn CSH của NHTM).
Tỷ lệ nợ phải trả trên TTS (tỷ lệ này phản ánh mức độ tài trợ của nợ phải trả cho tài sản). Trong giới hạn nghiên cứu này, tác giả lựa chọn tỷ lệ TGKH ngắn hạn nhỏ hơn 3 tháng (SDEP1), tỷ lệ TGKH ngắn hạn từ 3 tháng đến 12 tháng (SDEP2), tỷ lệ TGKH dưới 12 tháng (SDEP), tỷ lệ TGKH trung hạn từ 12 tháng đến 60 tháng (MDEP), tỷ lệ TGKH trung dài hạn trên 12 tháng (MLDEP) trên TTS và tỷ lệ nợ phi TGKH trên TTS (NONDEP) làm đại diện cho CTV để đánh giá tác động của CTV lên HQHĐ của các NHTMVN. Lý thuyết về CTV của ngân hàng CTV của NHTM khác với các DN phi tài chính về mô hình đặc điểm kinh doanh, nên tác giả phải cân nhắc lựa chọn áp dụng lý thuyết nào về CTV của các DN phi tài chính lên CTV của NHTM. 10 Miller (1995) cho rằng vẫn có thể mở rộng lý thuyết áp dụng cho các ngân hàng, ngay cả khi tồn tại thị trường không hoàn hảo theo mệnh đề M&M.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của chi phí vốn sẽ trở nên đặc biệt bởi sự đảm bảo trả nợ của chính phủ trong hoạt động ngân hàng. Berger và cộng sự (1995) nêu ra CTV các DN thông thường tương tự như các tổ chức tài chính, khi những giả định về thị trường hoàn hảo của M&M dần được loại bỏ. Những khiếm khuyết của thị trường xem xét để xác định CTV tối ưu của các tổ chức kinh tế bao gồm thông tin bất cân xứng, thuế, chi phí giao dịch, chi phí kiệt quệ tài chính,và mạng lưới an toàn của chính phủ. Theo Berger và cộng sự (1995), NHTM khác với các DN khác ở hai khía cạnh: (i) mạng lưới an toàn (safety net) của chính phủ giúp; (ii) các yêu cầu về vốn pháp định nhằm tăng vốn của các ngân hàng.
Khi đó, NHTM có khả năng giảm vốn và bảo vệ sự ổn định của hệ thống tài chính vì nó bảo vệ chủ nợ của ngân hàng (khách hàng tiền gửi) khỏi các tình thế bất lợi từ việc chấp nhận rủi ro khi gửi tiền vào ngân hàng, lúc này các NHTM có xu hướng giảm yêu cầu về vốn của thị trường. Việc giảm chi phí kiệt quệ tài chính khi mạng lưới an toàn của chính phủ thiết lập thì theo lý thuyết đánh đổi, khuynh hướng sử dụng đòn bẩy nhiều hơn so với các DN phi tài chính khác. Vì vậy, các NHTM cần nắm giữ nhiều vốn hơn vốn pháp định. Việc tăng tỷ lệ vốn của các ngân hàng có thể đảm bảo cho các chủ nợ về sự an toàn.
Bằng cách này, các vấn đề đại diện sẽ khuyến khích các cổ đông tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu bất kể quy định để đảm bảo sự an toàn về tiền cho chủ nợ (Berger và cộng sự, 1995). Các lý thuyết về CTV của ngân hàng đã được phát triển đáng kể trong thời gian qua. Diamond và Rajan (2000) cho rằng sử dụng tiền gửi để tài trợ cho các dự án của họ thì mới xây dựng mô hình CTV. Sự không chắc chắn theo quan điểm này là vì tiền gửi của NHTM có thể rút ra bất cứ lúc nào theo yêu cầu, có những tình huống bất lợi xảy ra có thể dẫn đến việc tháo chạy khỏi ngân hàng.
Khi đó, việc sử dụng vốn từ bên ngoài có thể đóng vai trò giúp các ngân hàng tránh được tình trạng kiệt quệ tài chính 11 và giảm biến động TGKH. Nếu tỷ lệ vốn cao hơn thì tạo thanh khoản ít hơn bởi nhu cầu tiền gửi giảm. Admati và cộng sự (2013) cho rằng, khi các ngân hàng nắm giữ nhiều VCSH hơn, phần bù rủi ro sẽ giảm do đó giảm lợi tức yêu cầu trên vốn CSH và giảm chi phí ngân hàng.