Chương 1 Trong chương này, tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu tác giả hướng đến, xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nêu ra ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài. LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ QUẢN TRỊ THANH KHOẢN CỦA NHTM 2. Cơ sở lý thuyết về quản trị thanh khoản của NHTM 2. Tính thanh khoản Có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau liên quan đến tính thanh khoản.
Tuy nhiên có thể hiểu rằng tính thanh khoản của ngân hàng là trạng thái luôn có trong tay một lượng vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu hoặc khả năng nhanh chóng huy động được vốn thông qua con đường vay nợ hay bán tài sản. Tính thanh khoản của NHTM luôn phải được nhìn ở trạng thái động, tức là xem xét trong tương quan cung - cầu thanh khoản của ngân hàng trong giai đoạn nhất định. Những nhân tố tác động đến cung và cầu thanh khoản sẽ tác động đến trạng thái thanh khoản của NHTM. Theo Nguyễn Văn Tiến (2010), “Quản trị rủi ro trong thanh khoản ngân hàng”, thì: - Nhân tố tác động đến cầu thanh khoản: Các điều kiện kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát.
Lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Sự khác biệt đáng kể về lợi tức giữa các khoản tiền gửi và các cơ hội đầu tư khác. - Nhân tố tác động đến nguồn cung thanh khoản: Quy định và chính sách tiền tệ của NHNN. Các điều kiện kinh tế vĩ mô.
Sự phát triển và tính dễ dàng tiếp cận của thị trường tiền tệ. Hoạt động của các thị trường khác như thị trường chứng khoán phái sinh. Rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro phát sinh khi ngân hàng không đủ khả năng đáp ứng dòng tiền rút ra khỏi ngân hàng tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động vốn với chi phí cao để đáp ứng các nhu cầu về vốn khả dụng. Tác động của rủi ro thanh khoản đến hoạt động của NHTM Tác động của rủi ro thanh khoản đến mỗi NHTM riêng lẻ: - Làm sụt giảm lợi nhuận và uy tín của ngân hàng.
- Trong một số trường hợp có thể dẫn đến sự phá sản và sụp đổ của ngân hàng. Tác động của rủi ro thanh khoản đến hệ thống ngân hàng và nền kinh tế: - Việc phá sản của một ngân hàng sẽ dẫn đến sự hoảng loạn của người gửi tiền, kéo theo sự rút tiền hàng loạt ở các ngân hàng khác và lúc này kéo theo sự sụp đổ của toàn hệ thống. - Tăng trưởng của nền kinh tế bị giảm sút. Quản trị thanh khoản Quản trị thanh khoản là một lĩnh vực quản lý nhằm đáp ứng mục tiêu thanh khoản của ngân hàng tránh rủi ro thanh khoản cao.
Như đề cập ở trên, có thể thấy rủi ro thanh khoản phát sinh khi ngân hàng không đủ khả năng đáp ứng dòng tiền rút ra khỏi ngân hàng tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động vốn với chi phí cao để đáp ứng các nhu cầu về vốn khả dụng. Như vậy, quản trị thanh khoản trong đó quan trọng hơn hết là các NHTM cần quan tâm đến tốc độ tăng trưởng tiền gửi và chi phí lãi tiền gửi. Bởi nếu có một sự sụt giảm bất thưởng ở tốc độ tăng trưởng tiền gửi hay tăng bất thường ở chi phí lãi tiền gửi đều là nguy cơ dẫn đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng. Cơ sở lý thuyết về bảo hiểm tiền gửi 2.
Khái niệm về Bảo hiểm tiền gửi: Theo Luật Bảo hiểm tiền gửi thì: Bảo hiểm tiền gửi: Là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG về việc tổ chức BHTG sẽ trả tiền gửi cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động và không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền. Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi: Tổ chức BHTG là đối tác nhận đóng góp tài chính từ tổ chức tham gia BHTG và có trách nhiệm thực hiện chi trả tiền gửi được bảo hiểm đến người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức đó chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán. Tổ chức tham gia BHTG: Là các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi. Theo thông lệ quốc tế, hiện nay trên thế giới có hai xu hướng tham gia BHTG, đó là các tổ chức tham gia BHTG có thể tham gia BHTG một cách bắt buộc hoặc tham gia tự nguyện.
Điều này tùy thuộc vào chính sách tài chính – ngân hàng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, qua nghiên cứu ở các nước, cho thấy xu hướng phổ biến hiện nay là tham gia BHTG bắt buộc. Khi tham gia BHTG các tổ chức này có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG và được quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức đó trong trường hợp tổ chức này bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động. Người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm: Là khách hàng có tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG.
Người gửi tiền không phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán tiền gửi kể cả tiền lãi tích lũy trên tiền gửi đó trong hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm của tổ chức BHTG có thể là toàn bộ hoặc một phần tiền gửi do chính sách của mỗi quốc gia. Bản chất của Bảo hiểm tiền gửi Bảo hiểm tiền gửi cũng mang bản chất của các loại hình bảo hiểm nói chung, đó là: - Hoạt động BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ công, có nghĩa là BHTG là công cụ được sử dụng để thực hiện chính sách công của từng quốc gia. - Hoạt động của tổ chức BHTG thông thường không vì mục tiêu lợi nhuận. Chính phủ các quốc gia thành lập tổ chức BHTG nhằm mục đích để thực hiện chính sách công.
Vai trò của hoạt động bảo hiểm tiền gửi Vì BHTG là sản phẩm của nền kinh tế thị trường và chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường nên vai trò của BHTG xuất phát từ bản chất của hoạt động tài chính luôn gắn liền với yếu tố niềm tin, mang tính nhạy cảm, và có tính lan truyền cao. Trong hoạt động ngân hàng, nếu niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống tài chính - ngân hàng bị khủng hoảng, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của một tổ chức tín dụng đơn lẻ mà còn tác động đến toàn bộ nền kinh tế. Niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống tài chính - ngân hàng là rất quan trọng vì niềm tin đó thường dựa vào các yếu tố tâm lý và khi họ gửi tiền vào ngân hàng họ thường đặt ra câu hỏi liệu tiền gửi của mình vào ngân hàng có an toàn không? Và hoạt động của ngân hàng nhận tiền gửi có ổn định không? hoặc nếu trường hợp xấu nhất xảy ra thì liệu họ có bị mất số tiền đã gửi hay không? Vai trò của BHTG được thể hiện rõ nét qua các khía cạnh sau đây: Một là, BHTG có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người gửi tiền, nâng cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính, ngân hàng. Bởi lẽ, trong nền kinh tế thị trường, bảo vệ người tiêu dùng nói chung và người gửi tiền nói riêng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi Chính phủ.
Bảo vệ người tiêu dùng là để đảm bảo cân bằng giữa sự phát triển và đảm bảo quyền lợi của người dân trong xã hội dân sự. 10 Do đó, BHTG là một công cụ tài chính hữu hiệu được hầu hết các Chính phủ sử dụng để bảo vệ người gửi tiền. Hai là, BHTG giúp xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính - ngân hàng và đó là yêu cầu đặt ra đối với bất kỳ Chính phủ nào trên thế giới. Tổ chức BHTG có nhiệm vụ thay mặt Chính phủ bảo vệ tiền gửi của người dân, và trong trường hợp tổ chức tín dụng bị đổ vỡ thì tổ chức BHTG này phải có trách nhiệm chi trả toàn bộ hoặc một phần tiền gửi cho người gửi tiền.
Thực tiễn cho thấy, khi mà người dân không tin tưởng vào hệ thống tài chính - ngân hàng thì trước hết hệ thống ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng và sau đó là toàn bộ nền kinh tế của quốc gia cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng theo. Một minh chứng cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ từ năm 2007 đến nay chính là cuộc khủng hoảng niềm tin của người dân vào khả năng thanh khoản của các ngân hàng, họ đã rút tiền ồ ạt, không gửi tiền cho các ngân hàng nữa và điều này đã chứng minh rõ nét vai trò của người gửi tiền đối với sự tồn tại, sự phát triển của hệ thống ngân hàng quốc gia. Khi công chúng thiếu tin tưởng vào hệ thống ngân hàng - tài chính, họ thường lựa chọn mua vàng hay bất động sản để tích lũy tài sản mà không gửi tiền vào ngân hàng nữa. Điều này ảnh hưởng không tốt đến toàn bộ nền kinh tế, do vậy sẽ cản trở sự phát triển, đặc biệt ở những quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Cụ thể, sự kiện xảy ra vào khoảng cuối những năm 2000 khi hàng loạt quỹ tín dụng nhân dân bị sụp đổ, gây tổn thất rất lớn cho nền kinh tế của Việt Nam. Hơn nữa, nếu người dân không tin tưởng vào hệ thống ngân hàng nói chung và tổ chức tín dụng nói riêng, lập tức người dân sẽ có hành động rút tiền ra khỏi hệ thống ngân hàng. Trường hợp này vô cùng nguy hiểm nếu hiện tượng này xảy ra hàng loạt và điều đó có thể dẫn đến đổ vỡ ngân hàng gây nguy hại đến toàn bộ nền kinh tế. Lịch sử hoạt động tài chính - ngân hàng đã xảy ra khá nhiều vụ rút tiền ồ ạt, gây ra sự tê liệt và đổ vỡ của các ngân hàng, như ở Mỹ vào những năm 1920, 1930 hay ở châu Á năm 1997 và gần đây nhất là ở Anh, Mỹ (Ngân hàng Northern 11 Rock của Anh, và ngân hàng Contrywide của Mỹ).
Do đó, nền kinh tế của các quốc gia này đã bị chao đảo bởi hệ quả của khủng hoảng tài chính - ngân hàng.