Chương 1 - Giới thiệu: Tác giả trình bày các nội dung chính cua bài nghiên cứu, các vấn đề nghiên cửu, lý do thực hiện nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và câu hói nghiên cứu. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết và tông quan về các nghiên cứu trước đó: Tác giả lược kháo các kết quá nghiên cứu của những tác gia khác đâ thực hiện liên quan đen mục tiêu của bài nghiên cứu, các cơ sở lý thuyết sử dụng trong bài nghiên cứu. Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Trình bày về phương pháp nghiên cứu cùa bài, mô hình nghiên cứu, mô tả định nghĩa biến và phương pháp tính các biển, phương pháp ước lượng; mồ tả về dừ liệu và cách thức thu thập dừ liệu. Chương 4 - Nội dung và kêt quả nghiên cứu: Trình bày vê nội dung nghiên cửu chính, các kết quã phát hiện được và tháo luận về các kết quá này.
Chương 5 - Ket luận: Đưa ra các kết luận chính của bài nghiên cứu, đề xuất hàm ý chính sách, các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. CO SỎ LÝ THUYẾT VÀ TÔNG QUAN CÁC NGHIÊN cứu 2. Khái niệm quá tự tin Quá tự tin là một trong các khái niệm quan trọng và được nghiên cứu nhiều nhất trong hệ thông lý thuyêt “Tài chính hành vi” được đặt nên móng bời Kahneman và Tvcrsky (1982). Từ sau khi Daniel Kahncman nhận được giái thường Nobcl kinh tể năm 2002, nhiều nghiên cứu dựa trên lý thuyêt của ông được thực hiện và đưa ra nhiều định nghía về khái niệm quá tự tin.
Theo Ackert và Deaves (2009), quá tự tin là xu hướng tâm lý mà con người đánh giá quá cao kiến thức, năng lực của bân thân, độ chính xác cúa các thông tin họ có hay thê hiện sự quá lạc quan về tương lai hay khả năng kiêm soát đối với các sự viộc sc diễn ra trong tương lai. Heaton (2002) đã đưa ra hai định nghía vồ sự quá tự tin. Thứ nhât, các nhà quán lý có xu hướng đánh giá năng lực bàn thân cao hơn thực tế. Thứ hai, các nhà quán lý tin rằng họ có thể nhìn nhận vấn đề rõ ràng hơn thực tế của nó.
Tâm lý quá tự tin khiến các nhà quản lý đánh giá cao các dòng tiên tương lai của dự án, đồng thời đánh giá thấp nhũng rủi ro có thể xáy ra (Malmendier và Tate, 2005). Ackerl và Deaves (2009) cũng chí ra rằng sự quá tự tin có thể được biểu hiện thông qua: ước lượng sai (khuynh hướng con người phóng đại sự chính xác vê sự hiêu biết cùa mình), hiệu ứng tốt hơn trung bình (khuynh hướng con người tự đánh giá cao các kỳ năng và đặc tính tích cực của mình khiến họ tin rằng họ tốt hơn đa sổ người khác), ảo tường kiếm soát (khuynh hướng con người nghĩ rằng họ có đủ khả năng kiêm soát tình thế, bao gồm các diền biến trong tương lai), lạc quan quá mức (khuynh hướng con người đánh giá xác suất diễn ra kết quả thuận lợi cao hơn thực tế). Ackert và Deaves (2009) cũng đồng tình với lập luận của Malmendier và Tate (2005) khi cho răng các CEO quá tự tin thường đánh giá quá cao dòng tiền trong tương lai và đánh giá thấp các rùi ro có thố diễn ra trong quá trình hoạt động của dự án. Do đó, khi công ty có tiên mặt dồi dào, những CEO này sằn sàng thực hiện đầu 9 tư vào các dự án không thực sự tốt như họ đà dự đoán, thậm chí có thê đem lại NPV âm.
Mặt khác, tâm lý tự tin quá mức cũng khiến các CEO định giá công ty họ cao hơn giá trị thực tế của nó, trong khi thị trường chỉ chấp nhận trả một mức giá thấp hơn. Từ đó, mặc dù có xu hướng phóng đại NPV của dự án nhưng các nhà quản lý quá tự tin cũng đồng thời phóng đại giá trị nội tại cùa vổn cô phần dần đến APV của dự án tài trợ bang cách phát hành vốn cố phần mới mang giá trị âm. Khi đỏ, họ sè từ chối phát hành thêm cô phiêu, đồng nghĩa với việc bò qua các cơ hội đâu tư vào các dự án có NPV dương. Có những cách giái thích khác cho việc các nhà quản lý không xem việc phát hành vốn cô phần như một lựa chọn được ưu tiên trong các quyết định tài trợ, phố biến nhất là cách giãi thích của Myers và Majluf (1984) thông qua cơ chế của sự bất cân xứng thông tin, điều khiến các nhà đầu tư cho rằng doanh nghiệp chi phát hành cô phiếu khi doanh nghiệp đang được định giá cao và họ chi sằn sàng trá một mức giá thấp hơn đê phòng ngừa rủi ro.
Tuy nhiên, đến nay đã cỏ nhiều nghiên cứu thực nghiệm phát hiện mối liên hệ giừa các CEO quá tự tin với việc hạn chế phát hành vốn cô phần dù có thê phải bò qua các dự án có NPV dương. Thước đo sự quá tự tin Một trong các khỏ khăn của việc xác định mức độ quá tự tin cùa các nhà quán lý là không thô quan sát trực tiếp mà phái được suy luận ra thông qua các thước đo hợp lý. Nhừng nghiên cứu trước đây đà áp dụng rất nhiều các thước đo khác nhau đê phát hiện sự quá tự tin cùa các nhà quán lý. Lambert và cộng sự (1991), Hall và Murphy (2000, 2002) cho răng các CEO lè ra nên hạn chê rủi ro băng cách sớm bán đi cố phiếu cùa công ty minh đang điều hành với mức giá đủ cao và thực hiện đa dạng hóa các khoán đầu tư.
Nhừng CEO có hành động trái ngược như nắm giừ quyền chọn có thể thực hiện quá mức %ITM (In The Money) họp lý như lính toán của Malmendier và Tale (2005) là 67% ít nhất hai lần trong nhiệm kỳ (Holder 67), nắm giừ quyền chọn dài hạn (Long Holder) hay thậm chí mua ròng cố phiếu (Net buyer) của công ty minh điêu hành được xem là biêu hiện của sự quá tự tin (Malmendier và Tate, 2005). Ying và cộng sự (2023) cũng áp dụng thước đo lừ hành vi mua ròng cố phiếu của CEO (Net buyer) đê xác định sự quá tự tin cùa các nhà quản lý. Lin và 10 cộng sự (2005) lập luận rằng các nhà quản lý tự tin thái quá sẽ có số dự báo lệch lạc theo chiều hướng tăng nhiều hơn sổ dự báo lệch lạc theo chiều hướng giám. Trong khi đó, Doukas và Petmezas (2007) xem xét tần suất ra các quyết định mua bán và sáp nhập đe nhận diện các CEO quá tự tin.
Các nhận xét, bình luận của báo chí và các phương tiện truyền thông về thái độ quá tự tin của các CEO cũng được xem là một thước đo Brown và Sarma (2007), Malmendier và Tate (2008). Hribar và Yang (2010), Huang và Kisgen (2013) xem xét sai lệch giừa dự báo của các nhà quản lý về thu nhập của doanh nghiệp và thực tế như một thước đo cho sự quá tự tin. Bên cạnh những thước đo bằng dừ liệu thứ cấp, một số nghiên cứu khác cũng sử dụng các thước đo dùng dừ liệu sơ cap. Graham và cộng sự (2013) đà xây dựng một bộ cằu hòi tâm lý liên quan đến thái độ đối với rùi ro và sự lạc quan đê xác định các CEO quá tự tin.
Theo Schrand và Zechman (2012), kích thước ãnh của CEO trên báo cáo thường niên cũng là một thước đo về sự tự tin thái quá, các CEO càng tự tin càng có xu hướng hiến thị ành của mình to hơn. Đào Thị Tuyết Nhung và cộng sự (2023), giới thiệu một thước đo mới về sự quá tự tin thông qua cao độ giọng nói của các nhà quán lý trong bài phóng van trực tiếp với bộ câu hói do tác giá xây dựng. Dựa trên khà năng thu thập dừ liệu, tác già lựa chọn so sánh thu nhập được các nhà quán lý dự báo với thu nhập thực tế của doanh nghiệp, thê hiện qua sổ liệu về lợi nhuận trước thuế kế hoạch (hoặc lợi nhuận sau thuế kế hoạch, tùy theo mức độ công bổ thông tin của từng doanh nghiệp cụ thê) và lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế, tương ứng) thực tế được công bố trong NQ ĐHĐCĐTN làm thước đo đê xác định sự quá tự tin của nhà quán lý doanh nghiệp. Mức độ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp Theo Ferreira và Vilela (2004); Bates và cộng sự (2009), lượng tiền mặt của một doanh nghiệp được hiêu là tiền và các khoán tương đương tiền, bao gồm các tài sán và các khoán đầu tư ngan hạn có khả năng chuyển đôi nhanh thành tiền.
Đê xem xét mức độ nắm giừ tiền mặt của các công ty, nhừng nghiên cứu trước đây chú yếu tập trung xem xét tý lệ giừa tiền và các khoán tương đương tiền với tống giá trị tài sản như các nghiên cứu của Kling và cộng sự (2014), Ghaly và cộng sự 11 (2015), Kusnadi và cộng sự (2015). Liu và cộng sự (2014), Locorotondo và cộng sự (2014) đề xuất sir dụng tỷ lệ tiền mặt và chứng khoán có thề bán được trên giá trị tài sản ròng làm thước đo mức độ nắm giừ tiên mặt của công ty. Lý thuyết ưa thích tiền mặt được xây dựng và phát triến bời John Maynard Keynes từ năm 1936 giúp làm rõ các động cơ nắm giừ tiền mặt cùa các cá nhân, tố chửc. Theo Keynes, có 3 động cơ chính thúc đấy hành vi nắm giừ tiền mặt, bao gồm: - Động cơ giao dịch: Keynes cho rằng một trong các động cơ nắm giừ tiền mặt là đỗ phục vụ hoạt động giao dịch hằng ngày.
Trong các nghiên cứu về sau, ồng đà điều chỉnh quan diêm này khi cho rằng với sự phát triên của công nghệ, nhiêu phương thức thanh toán thay the ra đời sẽ khiến cho nhu cầu tiền mặt thay đôi theo hướng giảm đi. Tuy nhiên, với khái niệm về lượng tiền mặt nắm giũ’ của doanh nghiệp bao gồm liền và các khoán tương đương tiền, quan diêm về động cơ giao dịch vần hoàn toàn phù hợp. - Động cơ dự phòng: Tiền mặt được xem như một tấm đệm để báo vệ tài sán của cá nhân và doanh nghiệp trong các lình huống rủi ro về thanh khoản. Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, có thể xuất hiện nhiều tình huống cần sử dụng tiền mặt và các tài sản có tính thanh khoản cao.
Neu không có một lượng dự trừ tiền mặt đú đế đáp ứng, doanh nghiệp sẽ phái sử dụng các biện pháp thay thế như bán tài sản hay vay nợ làm phát sinh chi phí giao dịch, chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp. Do đó, dự phỏng là động cơ quan trọng lý giái cho hành vi nam giừ tiền mặt của công ty.