CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC SỰ RA ĐỜI CỦA THIỀN PHÁI LÂM TẾ CHÚC THÁNH Ở VIỆT NAM 1. Bối cảnh Phật giáo Đàng Trong vào thế kỷ 17 - 18 Từ thế kỷ 17, Phú Xuân (Thuận Quảng) đã trở thành khu kinh tế lớn thứ hai đã tách khỏi khu kinh tế Thăng Long (Hà Nội) có sự phát triển độc lập, tách khỏi văn minh sông Hồng. Hình thành nên một nền kinh tế, văn hóa, chính trị mới phóng khoáng hơn khu vực Thăng Long (Hà Nội) Thế kỷ 16 và đầu 17, người Việt xem phương nam là vùng đất mới nơi dễ làm ăn sinh sống. Vùng đất mới này hứa hẹn nhiều lựa chọn.
Càng đi sâu vào nam tinh thần Nho học càng yếu dần, tư tưởng người dân cũng được phóng khoáng hơn, các quy tắc lễ nghi cũng được giảm thiểu. Chẳng hạn, nhà Nguyễn cho phép người Nhật, Trung Quốc, người Tây phương làm quan và có vị trí trong triều, đều này không bao giờ xảy ra tại kinh thành Thăng Long (Hà Nội). Trong điều kiện thuận lợi này làm cho nhà Nguyễn tự tin xưng vương năm 1744, Nguyễn Phúc Khoát tự hào tuyên bố, “Nhà nước ta, phát tích Ô châu”. Châu Ô là địa phương của vương quốc Chăm Pa, nay nhà Nguyễn dùng để nhấn mạnh phần đất giành được là do công lao của nhà Nguyễn tạo dựng nên, cũng là xây dựng một ý thức hệ về một đất nước riêng đã phát triển tách khỏi miền bắc và sẵn sàng hòa hợp với nền văn hóa bản địa trong đó có người Chăm, người dân tộc thiểu số vùng Đông Nam Á sinh sống.
Để tách khỏi văn hóa, kinh tế, chính trị miền Bắc, nhà Nguyễn lấy Phật giáo Đại thừa làm trung tâm vừa kế thừa tư tưởng của nhà Tiền Lê và nhà Trần, vừa là cách để tách khỏi sự ràng buộc các lễ giáo của chính quyền Lê Trịnh. Phật giáo mang tính hòa hiếu, phóng khoáng, gắn liền là bản sắc dân tộc, và đời sống của người dân từ ngàn xưa. Thông qua đây củng cố tính hợp pháp cho các nhà cai trị họ Nguyễn. Từ Chúa Nguyễn Hoàng trở về sau, các chúa Nguyễn thời kì 16 Luan van đầu tất thảy đều là những tín đồ sùng mộ đạo Phật.
Nguyễn Phúc Chu (trị vì 1691-1725), đã tự nhận thuộc thế hệ thứ 30 của dòng thiền Lâm Tế. Đạo Phật lấy tư tưởng bình đẳng, từ bi làm trung tâm, tinh thần vô ngã vị tha làm mục tiêu hướng đến. Nên cái tôi chính trị không được đề cao, khác hẳn với nhà Lê Trịnh tại miền bắc lấy Nho giáo làm trung tâm nên vua là thiên tử là đỉnh cao của xã hội, mệnh lệnh của vua là tối thượng nên tinh thần tự do dân chủ có phần yếu hơn miền Nam. Chúa Nguyễn biết lắng nghe ý kiến của quần thần, biết trọng dụng nhân tài để làm lợi ích cho nhân quần xã hội nên rất được lòng dân.
Nhà Lê Trịnh đã khởi binh chinh phục nhà Nguyễn nhiều lần nhưng đều thất bại đó là tinh thần quân dân đồng lòng thì vượt qua được các thử thách gian lao. Việc Chúa Nguyễn xem trọng Phật giáo, làm cho tâm thức mọi người thấy được nhà Nguyễn không đi ra ngoài ý chỉ của các vị tiền nhân thời Đinh, Lê, Lý, Trần và điều này cũng hợp với lòng dân. Phật giáo du nhập và phát triển vào Đàng Trong thế kỷ 17-18 có sự đóng góp rất lớn của đội ngũ tăng ni, cũng như cư dân người Hoa lẫn người Việt. Tăng ni tuy đóng vai trò quan trọng hàng đầu vào quá trình này nhưng chính sách hòa hiếu, thân thiện của các vị Chúa Nguyễn ở Đàng Trong nhiệt thành hướng Phật, tạo điều kiện thuận lợi cho Phật giáo du nhập và phát triển một cách tự nhiên và nhanh chóng.
Các chúa Nguyễn có thể nói là những người Việt đi tiên phong trong công cuộc mở rộng sức lan tỏa và hộ trì nhiệt tình cho Phật giáo, nhiều đời Chúa Nguyễn đã thọ tam quy, ngũ giới với đạo hiệu khác nhau như Minh vương Nguyễn Phúc Chu đạo hiệu cư sĩ Huy Long - Thiên Túng đạo nhân, Chúa Nguyễn Phúc Trăn - Vân Truyền đạo nhân, Nguyễn Vương Phúc Khoát - Từ Tế đạo nhân… Vào thời kỳ đầu, người có công truyền bá Phật giáo vào miền trong là thiền sư Minh Châu - Hương Hải (thuộc thiền phái Trúc Lâm). Những người trong hoàng tộc chúa Nguyễn và quan lại đều được Thiền sư Hương Hải truyền giới, trao cho pháp danh. Nhưng thiền sư Hương Hải có sự mốc nối với Đàng Ngoài 17 Luan van thao túng chính trị nên bị các chúa Nguyễn xa lánh và bắt giam. Vào năm 1682, Minh Châu - Hương Hải được tha đã trốn ra Đàng Ngoài.
Phái Trúc Lâm chấm dứt vai trò của mình ở miền Thuận Quảng. Và nhà Nguyễn không mặn mà với các vị thiền sư Đàng Ngoài, nên không nhiệt thành đón nhận các vị phía Bắc trở vào Nam hành đạo. Nhưng để cho Phật giáo tiếp tục được phát triển, các chúa Nguyễn là nhiệt thành ủng hộ các Tăng sỹ người hoa đến giáo hóa. Vì các vị này không gây hoài ghi và cũng không có liên hệ với các thế lực chính trị Đàng Ngoài để thao túng chính trị nhằm lôi kéo mọi người chống lại nhà Nguyễn, với mục đích thống nhất đất nước bắc nam làm một.
Phật giáo Đàng Trong giai đoạn tiếp theo gắn liền với hai phái Lâm Tế và Tào Động. Thiền sư Nguyên Thiều (1648 – 1728) người Trung Hoa đã hoằng dương Phật pháp tại Thuận Hóa, được chúa Nguyễn Phúc Trăn sùng kính và bảo hộ. Nhưng tông phái này cũng dần mất đi sự ủng hộ của các Chúa Nguyễn và đánh mất vai trò của mình ở Đàng Trong. Tiếp theo là Thiền phái Tào Động do Thiền sư Thạch Liêm - Đại Sán(1633- 1704) truyền vào qua lời mời của Chúa Nguyễn Phúc vào năm 1695 và phái Tào Động hưng khởi từ đó.
Chúa Nguyễn Phúc Chu cho phép Thạch Liêm mở đại giới đàn tại chùa Thiền Lâm và có đến hơn 1400 tăng sĩ thọ giới. Sách Đại Nam Liệt truyện chép việc trùng tu chùa Thiên Mụ vào năm 1714 có ghi “…Thời ấy, hòa thượng ở Chiết Tây tên Đại Sán hiệu Thạch Liêm đem thiền đạo đến yết kiến, được Chúa yêu mến, khi ông về nước được Chúa tặng nhiều gỗ quý đem xây cất chùa (Trường Thọ), nay vẫn còn di tích.” Phật giáo ở Đàng Trong, trong quá trình diễn tiến của nó đã có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Dòng thiền phái Trúc Lâm của Việt Nam và phái Tào Động, Lâm Tế đã chuyển hóa đan xen với nhau tạo ra sự phong hóa của Phật giáo Đàng Trong, chi phái mới Liễu Quán hình thành và phát triển trên cơ sở của sự hòa hợp các thiền phái này là một minh chứng tiêu biểu cho sự đan xen văn hóa thời kỳ đầu. 18 Luan van Tín ngưỡng thờ Phật của người Hoa khi đến Đàng Trong “đã có sự chuyển hóa mạnh mẽ yếu tố Trung Hoa mang màu sắc dân tộc”.
Biểu hiện của nó chính là sự hợp nhất tín ngưỡng truyền thống của người Hoa với Phật giáo chính thống của người Việt. Chẳng hạn, trong các ngôi chùa, nhất là chùa làng xuất hiện hiện tượng phối thờ: Các chư Phật Bồ Tát bên cạnh thờ Thập Điện Diêm Vương, Ngọc Hoàng Thượng Đế có cả Nam Tào, Bắc Đẩu; Quan Thánh Đế Quân. Trong nội bộ Phật giáo cũng không còn có sự thuần nhất tách biệt mà kết hợp với Thiền Tông, Tịnh, Mật Tông… để có nghi thức biến hóa cho phù hợp với tâm thức truyền thống. Sự ra đời thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh 1.
Sơ lược tiểu sử tổ Minh Hải – Pháp Bảo (1670 – 1746) và những ngôi chùa đầu tiên Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh gắn liền với thân thế và sự nghiệp của thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo (1670 – 1746) (người Hoa). Thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo (1670 – 1746), thế danh Lương Thế Ân, sinh vào ngày 28 tháng 6 năm Canh Tuất (1670) tại làng Thiệu An, huyện Đông An, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, năm Khang Hi thứ 8 triều nhà Thanh. Thân phụ là Lương Đôn Hậu, thân mẫu là Trần Thục Thận. Ngài là người con thứ hai trong gia đình.
Năm Mậu Ngọ (1678), Ngài được song thân đưa đến xuất gia tại chùa Báo Tư thuộc tỉnh Quảng Châu, lúc bấy giờ Ngài vừa tròn 9 tuổi. Năm 20 tuổi thì Ngài được thọ Cụ túc giới với pháp danh Minh Hải, tự Đắc Trí, hiệu là Pháp Bảo. Ngài nối pháp đời 34 dòng Lâm Tế truyền theo bài kệ của thiền sư Vạn Phong - Thời Ủy (1303 - 1381). Năm Ất Hợi (1695), chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 -1725) mời Hội đồng thập sự sang An Nam truyền giới cho chư Tăng và quý Phật tử tu học.
Ngài cùng các ngài Minh Vật – Nhất Tri (? – 1786), Minh Hoằng - Tử Dung (không rõ năm sinh năm mất), Minh Lượng – Thành Đẳng (1626 – 1709)… và hòa thượng Thạch Liêm – Đại Sán (1633 – 1704) làm trưởng đoàn. Phái đoàn xuống thuyền 19 Luan van tại bến Hòa Phố và cập bến Hội An vào ngày 28 tháng Giêng năm Ất Hợi (1695). Sau đó đoàn ra Thuận Hóa, được Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 -1725) ân cần tiếp đãi và ngụ tại chùa Thiền Lâm (Huế). Ngày 1 tháng 4 năm Ất Hợi (1695), giới đàn được khai mở, hòa thượng Thạch Liêm làm đường đầu hòa thượng.
Giới đàn truyền giới Sadi, Tỳ kheo và Bồ tát giới cho hơn 1400 giới tử. Trong đó, có quan lại, chư Tăng Ni. Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) được truyền trước một giới đàn riêng, hòa thượng đường đầu ban cho pháp hiệu Thiên Túng đạo nhân. Sau khi giới đàn hoàn thành viên mãn, ngày 28 tháng 6 năm Ất Hợi (1695), phái đoàn trở vào lại Hội An để chờ thuyền về nước.
Tại Hội An phái đoàn đã nghỉ lại chùa Di Đà, thể theo yêu cầu của chư Tăng, tín đồ Phật tử ngài Thạch Liêm đã lập đàn truyền giới cho hơn 300 giới tử. Ngày 19 tháng 7, phái đoàn ra Cù Lao Chàm chờ gió lên thuyền vế nước. Ngày 30 tháng 7, thuyền nhổ nẻo nhưng bị nghịch gió nên phái đoàn vào lại Hội An. Ngày 12 tháng 10, chúa Nguyễn Phú Chu (1691-1725) mời Ngài Thạch Liêm trở lại Phú Xuân lập đàn cúng Phật truyền giới một lần nữa tại chùa Linh Mụ.
Ngày 24 tháng 6 năm Bính Tý (1696) ngài Thạch Liêm cùng phái đoàn trở về Quảng Đông từ đó về sau không qua nữa. Ngài Minh Hải – Pháp Bảo (1670 – 1746) dừng chân tại đất Hội An, ban đầu chỉ lập một thảo am để tịnh tu, nhưng hương giới đức lan xa, mọi người tìm đến ngài học Phật pháp rất đông. Ngài chính thức khai đường giảng pháp, tiếp tăng độ chúng.