Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Trước những năm 90, nước ta chỉ gieo trồng các giống ngô thụ phấn tự do, các giống ngô lai tuy có được nghiên cứu nhưng diện tích trong sản xuất không đáng kể. Những năm gần đây, chương trình ngô lai quốc gia đã có sự phát triển mạnh mẽ về diện tích, năng suất, sản lượng góp phần quan trọng đảm bảo an ninh lương thực trong nước. Việc tăng cường đầu tư thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất dựa trên cơ sở áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, đặc biệt là việc nghiên cứu, sử dụng và đưa các giống ngô lai có năng suất cao, ổn định vào sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu về ngô ngày càng tăng.
Trong sản xuất nông lâm nghiệp, giống có vai trò hết sức quan trọng đối với việc nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng. Tuy nhiên một giống chỉ được coi là thực sự phát huy hiệu quả khi có tiềm năng, năng suất cao và thích hợp với điều kiện sinh thái của vùng. Việc nghiên cứu và đưa các giống ngô lai có năng suất cao, có thời gian sinh trưởng phù hợp với cơ cấu mùa vụ cụ thể ở địa phương là mục tiêu và động lực trong phát triển sản xuất ngô ở tỉnh Hà Giang. Vì vậy, cùng với nghiên cứu, chọn tạo giống ngô lai có năng suất cao, khả năng thích nghi rộng, chống chịu với điều kiện ngoại cảnh của từng vùng, thì việc nghiên cứu, khảo sát và đánh giá sự thích ứng, phù hợp của các giống mới cũng như các giống ngô lai triển vọng tại các điều kiện sinh thái khác nhau là rất cần thiết trong quá trình phát triển một giống mới.
Xuất phát từ nhu cầu về giống ngô của tỉnh Hà Giang nói chung và huyện Quản Bạ nói riêng. Trước những thực trạng đó, chúng tôi tiến hành đề n 5 tài: “So sánh một số giống ngô lai vụ Thu năm 2012 và Xuân năm 2013 tại thị trấn Tam Sơn - Quản Bạ - Hà Giang” để xác định được những giống ngô lai có triển vọng đưa vào sản xuất đại trà, góp phần làm tăng năng suất và sản lượng ngô của tỉnh, cũng như của huyện đem lại lợi nhuận cao nhất và góp phần nâng cao thu nhập cho bà con nông dân. Hình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu ngô trên thế giới Trên thế giới hiện nay có khoảng 75 nước trồng ngô bao gồm cả các nước phát triển và các nước đang phát triển, mỗi nước trồng ít nhất 100. Trong 25 nước sản xuất ngô hàng đầu thế giới có 8 nước phát triển, 17 nước đang phát triển.
Có khoảng 200 triệu nông dân trồng ngô trên toàn cầu, 98% là nông dân ở các nước đang phát triển. Mặc dù diện tích trồng ngô của Châu Á nhỏ hơn Châu Mỹ La tinh nhưng 75% số người trồng ngô là ở Châu Á, 15% - 20% ở Châu Phi và 5% ở Châu Mỹ La tinh (FAOSTAT, 2009).[16] Trong các cây ngũ cốc thì ngô đứng thứ ba về diện tích, đứng đầu về năng suất và sản lượng. Ngành sản xuất ngô trên thế giới liên tục tăng từ đầu thế kỷ XX đến nay, nhất là trong hơn 40 năm gần đây, ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu. Vào năm 1961, năng suất ngô trung bình của thế giới đạt 20 tạ/ha, năm 2004, đạt 49,9 tạ/ha năm 2007, theo USDA, diện tích ngô đã vượt qua lúa nước, với 157 triệu ha, năng suất 49,6 tạ/ha và sản lượng đạt kỷ lục với 789,5 triệu tấn, năm 2012 diện tích ngô đạt 176,99 triệu ha, năng suất 49,4 tạ/ha và sản lượng đạt 875,1 triệu tấn.1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô của thế giới giai đoạn 2005 - 2012 Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn) 2005 147,5 48,4 713,4 2006 148,8 47,5 706,7 2007 157,0 49,6 789,5 2008 161,1 51,3 826,2 2009 159,5 51,2 817,1 2010 184,9 51,6 823,9 2011 171,7 51,5 884,6 2012 176,9 49,4 875,1 Nguồn: FAOSTAT, 2013.[16] Số liệu bảng 1.
cho thấy, sản xuất ngô trên thế giới tăng lên không ngừng cả về diện tích và năng suất. Năm 2005 cả thế giới trồng được 147,42 triệu ha, năm 2010 là 184,9 triệu ha và năm 2012 đạt 176,9 triệu ha. Năng suất ngô tăng liên tục từ năm 2005 (48,4 tạ/ha) đến 2010 (51,6 tạ/ha), tuy nhiên năng suất ngô năm 2012 bị giảm nhẹ so với năm 2010, đạt 49,4 tạ/ha (giảm 2,2 tạ/ha). Do diện tích và năng suất tăng nên sản lượng ngô năm 2012 đạt cao nhất là 875,1 triệu tấn Theo dự báo của việc nghiên cứu chương trình lương thực thế giới, năm 2020 tổng nhu cầu ngô của thế giới là 825 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp.
Ở các nước phát triển chỉ dùng 5% sản lượng ngô làm lương n 7 thực nhưng ở các nước đang phát triển ngô sử dụng làm lương thực chiếm 22%, (Trần Hồng Uy và cs, 2002).[13] Thực tế cho thấy, nhu cầu ngô trên thế giới từ 2007 đến 2020 sẽ thay đổi rất lớn, đặc biệt ở các nước phát triển. Trong đó Đông Á và cận Sahara - Châu Phi là hai khu vực có mức độ thay đổi lớn nhất dự báo nhu cầu năm 2020 tăng 85% và 79%. Nguyên nhân là do dân số thế giới tăng nhanh, nhu cầu sử dụng thực phẩm có nguồn gốc động vật tăng đòi hỏi cần lượng ngô lớn dùng cho chăn nuôi.[18] Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến 2020 (là 852 triệu tấn) chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển. Trong khi đó chỉ khoảng 10% sản lượng ngô từ các nước công nghiệp có thể xuất sang các nước đang phát triển.
Vì vậy các nước đang phát triển phải tự đáp ứng nhu cầu của mình bằng cách thúc đẩy sản xuất ngô trong nước phát triển.2: Dự báo nhu cầu ngô thế giới năm 2020 Năm 2007 Năm 2020 Vùng % thay đổi (triệu tấn) (triệu tấn) Thế giới 586 852 45 Các nước đang phát triển 295 508 72 Đông Á 136 252 85 Nam Á 14 19 36 Cận Sahara - Châu Phi 29 52 79 Mỹ la tinh 75 118 57 Tây và Bắc Phi 18 28 56 Nguồn: IRRI, 2003 [17] Nhận thấy cần thiết phải đưa sản lượng ngô tăng lên theo hướng nâng cao năng suất/đơn vị diện tích, nhiều quốc gia đặc biệt là các nước phát triển đã tăng cường sử dụng giống mới với điều kiện thâm n 8 canh tối ưu nhất nên năng suất và sản lượng ở các nước này có sự tăng trưởng rõ rệt như: Mỹ, Pháp… Trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới hiện nay, ngô, lúa mỳ, lúa nước là những cây thực phẩm vẫn chiếm vị trí quan trọng nhất trong lĩnh vực cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống toàn nhân loại. Vì vậy, chọn các giống ngô năng suất cao và các biện pháp kỹ thuật canh tác là một trong những giải pháp của nhân loại về vấn đề lương thực Dự báo đến năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm 2007, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), trong đó các nước khu vực Đông Á được dự báo có nhu cầu tăng mạnh nhất vào năm 2020 (85%). Sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh ở các nước này là do dân số tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng, dẫn đến nhu cầu về lương thực, thực phẩm tăng mạnh, từ đó đòi hỏi khối lượng ngô rất lớn để phát triển chăn nuôi. Như vậy trên toàn cầu trong những năm gần đây và thời kì sắp tới diện tích và thị trường ngô không có biến động lớn, chỉ có năng suất ngô sẽ tăng tương đối nhanh.
Năng suất ngô tăng mạnh sẽ đem lại sự tăng về sản lượng đặc biệt là các nước đang phát triển có sự tăng diện tích ở những nơi có khả năng gieo trồng ngô nhưng là một tỉ lệ nhỏ. Hiện nay thị trường ngô trên thế giới được đánh giá là một thị trường tương đối khả quan. Với tình hình sản xuất và tiêu thụ hiện nay thì cây ngô sẽ càng khẳng định được vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu ngô ở Việt Nam Trước những năm 1980 năng suất ngô ở Việt Nam chỉ đạt trên 10 tạ/ha, với diện tích hơn 200.000 ha, đến đầu năm 1980 năng suất cũng chỉ đạt 11 tạ/ha và sản lượng hơn 400.
n 9 Năm 1991 diện tích trồng ngô lai chưa đến 1% trên hơn 400.000 ha trồng ngô, năm 2007 giống ngô lai chiếm khoảng 90% trong số hơn 1. Năng suất ngô nước ta tăng nhanh liên tục với tốc độ cao hơn trung bình thế giới trong suốt 30 năm qua. Năm 1980, năng suất ngô nước ta chỉ bằng 34% so với trung bình thế giới (11/32 tạ/ha), năm1990 bằng 42% (15,5/37 tạ/ha). Năm 1994 sản lượng ngô Việt Nam vượt ngưỡng 1.000 tấn, Năm 2000 vượt ngưỡng 2.000 triệu tấn và năm 2012 chúng ta đã đạt diện tích, năng suất và sản lượng cao nhất từ trước đến nay.118,2 ha, năng suất 42,9 tạ/ha, sản lượng 4.
Năm 2002, diện tích ngô nước ta chỉ là 810,4 nghìn ha, năng suất 28,6 tạ/ha, sản lượng 2.314,7 nghìn tấn nhưng năm 2012 diện tích ngô đã tăng lên đạt 1.118,2 ha nghìn ha, năng suất đạt 42,9 tạ/ha và sản lượng đạt 4. Như vậy chỉ trong vòng 10 năm, diện tích ngô đã tăng lên 307,8 nghìn ha, năng suất tăng lên 14,3 tạ/ha, sản lượng là 2. Chương trình nghiên cứu phát triển ngô lai ở Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế đánh giá rất cao vì có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Năm 1990 là năm đầu tiên Việt Nam áp dụng công nghệ sản xuất hạt giống ngô lai với diện tích thử nghiệm 5 ha, đến năm 2012 diện tích trồng ngô lai chiếm hơn 90% diện tích.
Mặc dù đã đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng trong sản xuất ngô nước ta vẫn còn những vấn đề đặt ra như: Năng suất vẫn còn thấp so với trung bình thế giới (khoảng 86%), giá thành năng suất còn cao, sản lượng chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước những năm gần đây phải nhập từ 500 - 1000 nghìn tấn ngô hạt để làm thức ăn chăn nuôi (Theo số liệu thống kê, n 10 trong năm 2012, nhập khẩu ngô Việt Nam là 1.3: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2012 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (1000 ha) (tạ/ha) (1000 tấn) 2005 1.[14] Số liệu bảng 1.