PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong lịch sử tồn tại lâu đời của nhà nước, vấn đề trọng tâm của bất cứ nhà nước nào là việc tổ chức và thực hiện quyền lực của nhà nước như thế nào. Lý luận và thực tiễn đã chứng mình rằng, một nhà nước mà có cơ chế tổ chức và thực hiện quyền lực dựa trên những luận cứ khoa học và phù hợp với những đòi hỏi khách quan thì nhà nước đó sẽ tồn tại và phát triển bền vững. Ngược lại, việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước nếu chỉ dựa trên ý chí chủ quan không có căn cứ khoa học thì sớm hay muộn chế độ nhà nước đó cũng sẽ bị diệt vong.
Chính vì vậy, vấn đề tìm ra một mô hình tổ chức nhà nước khoa học phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh trong nước và quốc tế là công việc chính yếu của bất kỳ một nhà nước nào trong qúa khứ, hiện tại cũng như tương lai. Trong tiến trình lịch sử, ở các quốc gia khác nhau, việc nghiên cứu, tìm tdi, sáng tao ra các mô hình, cơ chế tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước tối ưu, có hiệu qủa đã thúc đẩy mạnh mẽ sự hình thành và phát triển của hiến pháp - một đạo luật cơ bản của quốc gia, có vị trí tối cao, mà chỉ trong giai đoạn phát triển của nhà nước hiện dai thi mới hội đủ các điều kiện để hiến pháp xuất hiện. Trong một bản hiến pháp bao gồm nhiều chế định khác nhau quy định những vấn đề cơ bản của việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước và những vấn đề cơ bản khác. Trong đó, vấn đề cơ bản và quan trọng nhất của bất cứ một bản hiến pháp nào là vấn đề hình thức chính thể nhà nước.
Hình thức chính thể nhà nước là hình thức tổ chức các cơ quan quyền lực nhà nước tối cao, cơ cấu, trình tự thành lập và mối liên hệ của chúng với nhau cũng như mức độ tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này. Ở trên thế giới, sự xuất hiện của hiến pháp đã có bẻ dày lịch sử, có nhiều quốc gia đã có lịch sử lập hiến hàng trăm năm, đã có những đóng góp to lớn cho nhân loại, đặc biệt là việc tìm ra các mô hình tổ chức quyền lực nhà nước có hiệu qủa. So với thế giới, lịch sử lập hiến Việt Nam còn non trẻ. Ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập - một áng văn lập quốc vĩ đại, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
Ngày 6/1/1946, toàn thể quốc dân đồng bào Việt Nam đã đi bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 9/11/1946, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khóa I, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Bản Hiến pháp đã đánh dấu một bước ngoặt trên con đường phát triển của Nhà nước và pháp luật Việt Nam, mở ra mot thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam. Ở nước ta, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về Hiến pháp 1946 đã được các tác giả đề cập tới dưới các góc độ khác nhau, ít nhiều có đề cập đến hình thức chính thể, có thể kể đến như: "Lịch sử lập hiến Việt Nam" của Tiến sĩ Luật học Thái Vĩnh Thắng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội 1997.
Tác phẩm này chỉ để cập một cách chung chung lịch sử lập hiến Việt Nam; “Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam” của Văn phòng Quốc hội - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Nội dung tác phẩm đề cập đến các bài viết độc lập của các tác giả khác nhau, tiếp cận dưới nhiều góc độ nên chưa phản ánh được bản chất pháp lý của vấn dé; Luận án Tiến sĩ luật học "Lich sử lập hiến Việt Nam" của Lê Hữu Thể, Luận án nêu lên qúa trình lịch sử lập hiến của Việt Nam, đã có đề cập đến chính thể Hiến pháp 1946 nhưng chỉ ở mức độ khái quát. Các khóa luận tốt nghiệp bàn về giá trị Hiến pháp 1946 và tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng Hiến pháp 1946. Các ấn phẩm này đã đề cập đến việc nghiên cứu chính thể Việt Nam Hiến pháp 1946, nhưng mới chỉ dừng lại mức độ cung cấp thông tin, tư liệu mà chưa đi sâu phân tích luận giải.
Bên cạnh đó, còn có các ấn phẩm khác bàn về tư tưởng Nhà nước và pháp luật của Hồ Chí Minh, có thể kể đến tác phẩm: "Chui tịch Hô Chí Minh sự nghiệp xây dựng Nhà nước kiểu mới và pháp luật ở Việt Nam" của Nguyễn Ngọc Minh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà nội 1982; "Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật” do Bộ Tư pháp là cơ quan chủ trì, Hà Nội 1993; "Hồ Chủ Tịch trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước và nên pháp lý dân chủ, xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của Hội Luật gia Việt Nam; "Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh" của vụ Vũ Dinh Hoe, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin. Đặc biệt, năm 1992, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước đã quyết định đưa vào chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về tư tưởng Hồ Chí Minh với dé tài: "Tư tưởng Hồ Chí Minh Nhà nước của dân, do dân, vì dan" Ngoài ra, còn có các bài viết trên các sách báo chính trị pháp lý đề cập đến Hiến pháp 1946, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Nội dung của các ấn phẩm này đã phần nào lý giải những vấn dé cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước nói chung và hình thức chính thể nói riêng. Tuy nhiên, do tiếp cận vấn đề ở các góc độ khác nhau nên bản chất pháp lý của vấn đề chưa được soi rọi thấu đáo.
Còn về sự so sánh giữa chính thể Việt Nam trong Hiến pháp năm 1946 với chính thể các nước khác thì chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống, mà nó chỉ được đề cập một cách rời rạc trong các công trình, ấn phẩm, các sách báo chính trị pháp lý với nội dung khái quát, chưa có sự đi sâu nghiên cứu, phân tích, đánh giá. Nhìn chung, các ấn phẩm đã xuất bản chỉ đề cập một cách khái quát, chung chung đến chính thể Việt Nam Hiến pháp 1946 và hầu như chưa nghiên cứu nhiều đến sự so sánh chính thể đó chính thể các nước. Do đó, cần phải có một công trình khoa học độc lập nghiên cứu về chính thể Việt Nam Hiến pháp 1946 và sự so sánh chính thể với các nước, trên cơ sở đó đưa ra luận cứ lý luận nham hoàn thiện mô hình tổ chức Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn mới. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3.
Cơ sở lý luận Luận văn được thực hiện trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về Nhà nước và pháp luật. Tuy nhiên, chúng tôi cũng mạnh dạn nghiên cứu những tư tưởng của các học giả tư sản và các học giả trong chế độ Sài Gòn "cũ" nhằm chat lọc những đóng góp của họ trên phương diện chính thể nhà nước. Những tri thức của khoa học Lý luận về Nhà nước và pháp luật được vận dụng trong qúa trình nghiên cứu. Những tri thức khoa học luật Hiến pháp, đặc biệt những tri thức về hình thức chính thé nhà nước được sử dụng nhiều nhất trong qúa trình thực hiện đề tài.
Đề tài cũng sử dụng những tri thức về luật học so sánh trong qúa trình thực hiện. Ngoài ra, những kết qủa nghiên cứu của các ngành sử học, chính trị học, triết học, Hồ Chí Minh học, xã hội học pháp luật cũng được sử dụng trong qúa trình nghiên cứu. Những kết qủa nghiên cứu của các ngành khoa học này được sử dụng làm cơ sở lý luận để đưa ra những kết luận độc lập dưới góc độ của luật học. Phương pháp nghiên cứu Trong qúa trình nghiên cứu tác giả đã vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, tiếp cận hệ thống.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến chính thể Việt Nam Hiến pháp 1946. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về hình thức chính thể nhà nước. Nghiên cứu trong sự so sánh với chính thể các nước, so sánh với chính thể và sự kế thừa, phát triển chính thể nhà nước trong các Hiến pháp Việt Nam.
Pham vi nghiên cứu Trong phạm vi một bản luận văn cao học, đề tài chỉ tiếp cận trên phương diện luật học chính thể Nhà nước Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về hình thức chính thể Nhà nước Hiến pháp 1946. Trong nghiên cứu so sánh chính thể một số nước, đề tài chỉ nghiên cứu lựa chọn với một số nước đại diện cho các hình thức chính thể, hệ thống pháp luật, đường lối chính trị. Các thiết chế như Quốc hội (cơ quan đại diện), Chủ tịch nước (nguyên thủ quốc gia), Chính phủ, Tòa án chỉ nghiên cứu ở mức độ cho phép xác định hình thức chính thể Nhà nước chứ không đi vào nghiên cứu chi tiết cụ thể. Những kiến giải của đề tài cũng không đi vào những vấn đề cụ thể của từng chế định chính trị mà chỉ giải quyết những vấn đề tạo cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện mô hình tổ chức nhà nước.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5. Mục đích nghiên cứu Trong điều kiện mà chúng ta đang đổi mới hệ thống chính trị, hoàn thiện mô hình tổ chức nhà nước thì việc nghiên cứu đề tài: "Sự tương đồng và sự khác biệt của chính thể Việt Nam Hiến pháp 1946 với chính thể của một số nhà nước trên thế giới” nhằm mục đích: - Khẳng định giá trị to lớn, đặc biệt là giá trị chính thể của Hiến pháp 1946, khẳng định sự sáng tạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí của Người trong việc xây dựng Nhà nước kiểu mới. - Nghiên cứu tìm ra sự giống nhau và khác nhau của chính thể Việt Nam Hiến pháp 1946 với chính thể của một số nước khác nhau đại diện cho các hình thức chính thể, chế độ chính trị, hệ thống pháp luật.