CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÔNG NGHỆ DẬP TẠO HÌNH 1. Tổng quan về công nghệ gia công áp lực Gia công áp lực là một ngành cơ bản trong sản xuất Cơ Khí. Nó cho phép tạo ra các sản phẩm có hình dáng và kích thước phức tạp đồng thời đảm bảo chất lượng về cơ tính tốt, năng suất cao, giá thành hạ. Do vậy, Gia Công Áp lực có một vị trí rất lớn trong công nghiệp chế tạo phụ tùng otô, máy kéo, xe máy, hàng dân dụng và quốc phòng với 2 lĩnh vực lớn là công nghệ cán kéo và công nghệ dập tạo hình.
Các phương pháp gia công vật liệu. Gia công kim loại bằng áp lực có lịch sử phát triển lâu đời. Từ thời kì đồ đồng, gia công kim loại bằng áp lực gần như là phương pháp duy nhất để tạo hình chi tiết-sản phẩm. Trong giai đoạn đầu của nền công nghiệp Cơ khí, phương pháp gia công áp lực không dủ khả năng để tạo ra chi tiết có độ chính xác cao, nên gia công kim loại bằng áp lực chỉ tồn tại như một phương pháp chuẩn bị phôi cho gia công cơ khí.
HIện nay và trong tương lai, ngành gia công áp lực chắc chắn sẽ chiếm một vị trí quan trọng do các ưu điểm nổi bật. Tại các nước phát triển trên thế giới như Anh, Nga, Mỹ,. ngành gia công áp lực xuất hiện từ rất sớm và mang lại giá trị kinh tế cao, đóng góp cho nền kinh tế quốc dân. Trong suốt hơn 40 năm hình thành và phát triển, ngành công nghệ gia công áp lực đã có nhiều đóng góp cho nền kinh tế nước nhà.
Từ những năm 1995, Việt Nam đã có thể chế tạo thành công những loại máy uốn thép để tạo ra sản phẩm như : Các loại thép định hình phục vụ xây dựng, những thanh chắn đường đạt 3 tiêu chuẩn, máy làm các tấm lớp kim loại. Đâ là những sản phầm Việt Nam phải nhập khẩu. Hiện nay, nước ta đang chủ trương tăng cường các công nghệ phụ trợ trong nhiều lĩnh vực : oto, xe máy, dầu khí, hiện đại hocas trong công nghiệp, nông nghiệp – nông thôn. Vì thế ngành cơ khí nói chung và công nghệ gia công áp lực nói riêng càng cần được chú trọng nghiên cứu và phát triển.
Khái niệm về gia công áp lực Gia công áp lực là phương pháp gia công vật liệu dựa trên sự biến dạng dẻo của kim loại trong suốt quá trình gia công để đạt được hình dạng và kích thước cuối cùng như mong muốn. Gia công áp lực chiếm một vị trí quan trọng với một tỉ trọng ngày càng tăng trong sản xuất cơ khí. Ngoại lực là yếu tố cơ bản trong gia công áp lực, góp phần tạo ra hình dáng của vật thể và tạo ra cơ tính cao hơn, giảm tiêu hao vật liệu… Nhiệt độ là yếu tố quan trọng trong gia công áp lực. Nhiệt độ cao làm tăng tính dẻo của kim loại do đó dễ biến dạng dẻo vật liệu và làm giảm trở lực biến dạng, giảm sức lao động, tăng năng suất… So với đúc, gia công áp lực tạo ra sản phẩm có độ bền cao hơn, khả năng chịu lực tốt hơn, độ chính xác và độ nhẵn mặt ngoài cao hơn, tiết kiệm kim loại, năng suất cao hơn nhưng cần thiết bị tạo lực phức tạp và đắt tiền.
Sản phẩm gia công áp lực dùng chủ yếu trong các chi tiết máy, cơ cấu chịu tải trọng cao, tải trọng động hay va đập. Vật liệu dùng gia công áp lực là các loại thép C, thép hợp kim, kim loại màu, hợp kim màu… Gia công áp lực tạo ra nhiều dạng sản phẩm khác nhau. Có những sản phẩm đem dùng ngay gọi là chi tiết, có những sản phẩm phải qua gia công cơ tiếp theo gọi là phôi. Sản phẩm của gia công áp lực.
Ưu nhược điểm của công nghệ gia công áp lực So với công nghệ đúc Ưu điểm - Khử được một số khuyết tật như rỗ khí, rỗ co, làm cho tổ chức kim loại mịn, cơ tính sản phẩm cao. - Có khả năng biến tổ chức hạt của kim loại thành tổ chức thớ, có khả năng tạo ra được tổ chức thớ uốn, xoắn khác nhau làm tăng cơ tính sản phẩm - Độ bóng và độ chính xác cao hơn các chi tiết - Dễ cơ khí hóa và tự động hóa nên năng suất cao, giá thành hạ Hạn chế - Không gia công được các chi tiết phức tạo - Bất lợi khi gia công chi tiết có kích thước quá lớn - Khó gia công với vật liệu giòn So với phương pháp cắt gọt Ưu điểm 5 - Năng suất cao, phế liệu ít, giá thành hạ. - Rèn, dập là những phương pháp cơ bản để chế tạo phôi cho gia công cắt gọt. Nhược điểm - Độ bóng độ chính xác thấp hơn so với phương pháp gia công cắt gọt.
Một số phương pháp gia công áp lực điển hình Gia công áp lực Cán Kéo Ép kim Rèn tự Dập thể Dập tấm loại do tích Hình 1. Sơ đồ phân loại gia công áp lực a. Phương pháp cán Phương pháp cán là phương pháp biến dạng kim loại giữa hai trục cán quay ngược nhiều nhau để được sản phẩm cán có thiết diện giống như khe hở giữa hai trục cán ( lỗ hình) và có chiều dài không hạn chế. Công nghệ cán kim loại b.
Phương pháp kéo kim loại 6 Là phương pháp biến dạng dẻo của kim loại qua lỗ hình của khuôn kéo dưới tác dụng của lực kéo, phôi được vuốt dài ra, giảm diện tích tiết diện ngang tăng chiều dài.Công nghệ kéo kim loại c. Phương pháp ép kim loại Phương pháp ép kim loại là phương pháp chế tạo các sản phẩm kim loại bằng cách điền đẩy kim loại chứa trong buồng ép kín hình trụ, dưới tác dụng của chày ép kim loại biến dạng qua lỗ khuôn ép có tiết diện giống như tiết diện ngang của chi tiết. Công nghệ ép kim loại a, ép sơi b, ép thanh c, ép ống d. Phương pháp rèn tự do Là phương pháp gia công áp lực mà kim loại biến dạng không bị khống chế bởi một mặt nào khác ngoài bề mặt tiếp xúc giữa phôi và dụng cụ gia công.
Công nghệ rèn tự do e. Phương pháp dập thể tích Dập thể tích là phương pháp gia công áp lực trong đó kim loại biến dạng trong giới hạn lòng khuôn. Công nghệ dập thể tích trong khuôn hở Hình 1. Công nghệ dập trong khuôn kín f.
Phương pháp dập tấm 8 Hình 1.Công nghệ dập tấm. Là phương pháp biến dạng dẻo phôi kim loại ở dạng tấm trong khuôn dưới tác dụng của ngoại lực để tạo thành sản phẩm có hình dạng, kích thước theo yêu cầu.[5] Dựa vào đặc điểm biến dạng người ta chia thành hai nhóm chính - Nhóm các nguyên công cắt vật liệu : Khi tạo hình chi tiết, các nguyên công của nhóm này thường phải tiến hành biến dạng phá hủy vật liệu, tức là tách một phần vật liệu ra khỏi một phần vật liệu khác. - Nhóm các nguyên công biến dạng dẻo của vật liệu : tạo hình chi tiết dựa trên sự biến dạng dẻo của vật liệu và hầu hết các trường hợp đều có sự dịch chuyển và phân bố lại kim loại. Sơ đồ công nghệ dập tấm 9 - Nguyên công cắt hình và đột lỗ Là nguyên công cắt những thép tấm cán hoặc thép cuộn thành những bănghoặc dải, cắt những thép tấm cán tiêu chuẩn thành những phôi khác nhau, cắt hình để nhận được các loại chi tiết phẳng có hình dạng kích thước khác nhau, hoặc cắt phôi cho các nguyên công khác bằng dao cắt hoặc khuôn cắt… Một số nguyên công cắt điển hình: cắt phôi, cắt hình, đột lỗ, cắt trích,… Lực cắt hình và đột lỗ(lực biến dạng) phụ thuộc vào trở lực cắt cửa vật liệu phôi, chiều dày vật liệu s, độ dài chu vi cắt L, hình dạng và trạng thái mép làm việc của chày và cối, khe hở Z, tốc độ biến dạng và độ lún sâu của chày vào kim loại thời điểm xuất phát vết nứt.
Sơ đồ nguyên công đột lỗ Có thể xác định một cách gần đúng lực cắt hình và đột lỗ bằng tích số giữa diện tích cắt F với trở lực cắt có tính đến các yếu tố ảnh hưởng bởi hệ số k=1,11,3.k Trong đó: L: chu vi cắt (mm); s: chiều dày vật liệu (mm) ; : trở lực cắt vật liệu(kg/ ). Công biến dạng: Lực biến dạng khi cắt hình và đột lỗ thay đổi theo hành trình của chày vậy công biến dạng khi cắt hình và đột lỗ được xác định theo công thức : 10 A= Trong đó: P: Lực cắt tính theo công thức trên; H: hành trình cắt. Trong quá trình cắt thường có xảy ra các quá trình biến dạng vì vậy để giảm sự ảnh hưởng của các lực biến dạng đó có thể dùng các phương pháp khác nhau như: cắt từng phần theo đường bao cắt; đột bằng các chày có chiều dài khác nhau; cắt đột bằng chày và cối có mép cắt nghiêng. Khi cắt bằng chày cối cắt nghiêng quá trình cắt không xảy ra đồng thời trên toàn bộ đường bao của chi tiết mà xảy ra tuần tự giống như khi cắt trên máy cắt dao nghiêng.
Do đó lực cắt đột có thể giảm đi (30-40)%. - Nguyên công uốn Là nguyên công nhằm biến đổi các phôi có trục thẳng thành các chi tiết có trục cong. Uốn: là môt trong những nguyên công thường gặp nhật trong dập nguội. Quá trình uốn bao gồm biến dang đàn hồi và biến dạng dẻo.
Uốn làm thay đổi hướng thớ kim loại, làm cong phôi và thu nhỏ dần kích thước trong quá trình uốn. Kim loại phía trong góc uốn bị ép nén và co ngắn ở hướng doc, bị kéo ở hướng ngang.Khi uốn tấm dải rộng củng xảy ra hiện tượng biến mảnh vật liệu nhưng sẻ không không có sai lệch tiết diện ngang. Vì trở kháng của kim loại có chiều rộng lớn sẻ chống lại sự biến dạng theo hướng ngang. Một số nguyên công uốn: uốn, cuốn, vặn.
Một số nguyên công uốn 11 Nguyên công uốn được thực hiện trên các máy ép trục khuỷu, máy ép thủy lực, máy uốn tấm nhiều trục(máy lốc tấm), máy uốn prôfin chuyên dùng để uốn có kéo vào các máy uốn tự động vạn năng. Uốn bằng khuôn trên các máy ép trục khuỷu được sử dụng nhiều nhất trong chế tạo máy. Quá trình uốn trên khuôn do tác dụng đồng thời của cả chày và cối với các điểm đặt lực P và Q ở một khoảng nhất định. Sơ đồ nguyên lý nguyên công uốn Lực P và Q sẽ tạo ra moomen uốn làm thay đổi hình dạng của phôi.