Chương 1: Tín dụng chứng từ và quản trị rủi ro trong tín dụng chứng từ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro trong tín dụng chứng từ theo UCP600 và ISBP681 tại các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro trong tín dụng chứng từ theo UCP600 và ISBP681 tại các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Đây là đề tài rộng, khái quát nhiều vấn đề nên chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong nhận đƣợc những đóng góp ý kiến của quý thầy cô để luận văn thêm hoàn thiện.
1 CHƢƠNG 1 TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU 1. TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1. Khái niệm tín dụng chứng từ Theo điều 2, UCP600, tín dụng chứng từ đƣợc định nghĩa nhƣ sau:“Tín dụng chứng từ là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn không hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”. Tín dụng chứng từ là phƣơng thức thanh toán trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho ngƣời thụ hƣởng hoặc chấp nhận hối phiếu do ngƣời này ký phát trong phạm vi số tiền đó nếu ngƣời này xuất trình đƣợc bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định nêu ra trong thƣ tín dụng (Letter of credit – viết tắt là L/C).
Diễn đạt một cách đơn giản hơn, tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành thƣ tín dụng) đáp ứng những nhu cầu của khách hàng (ngƣời xin phát hành thƣ tín dụng) cam kết hay cho phép ngân hàng khác chi trả hoặc chấp thuận yêu cầu của ngƣời hƣởng lợi khi những điều kiện và điều khoản quy định trong thƣ tín dụng đƣợc thực hiện đúng và đầy đủ. Trong ngoại thƣơng, ngƣời yêu cầu ngân hàng phát hành thƣ tín dụng là ngƣời mua hàng (doanh nghiệp nhập khẩu) và ngƣời thụ hƣởng là ngƣời bán hàng (doanh nghiệp xuất khẩu). Thuật ngữ tín dụng trong tín dụng chứng từ ở đây đƣợc dùng theo nghĩa rộng, nghĩa là tín nhiệm, không phải là một khoản vay theo nghĩa thông thƣờng. Điều này thể hiện rõ trong trƣờng hợp khi ngƣời nhập khẩu ký quỹ 100% trị giá thƣ tín dụng, thì thực chất ngân hàng không cấp một khoản tín dụng nào, mà chỉ cho ngƣời nhập khẩu “vay” uy tín, sự tín nhiệm của mình.
Ngay cả khi nhà 2 nhập khẩu không hề ký quỹ, thì một khoản tín dụng thực sự chỉ xảy ra khi ngân hàng phát hành phát hành thƣ tín dụng tiến hành trả tiền cho doanh nghiệp xuất khẩu và ghi nợ cho doanh nghiệp nhập khẩu. Các bên tham gia trong tín dụng chứng từ Qua khái niệm tín dụng chứng từ, chúng ta có thể thấy các bên tham gia tín dụng chứng từ gồm có: Người xin mở thư tín dụng (applicant) thông thƣờng là ngƣời mua hay là tổ chức nhập khẩu. Người hưởng lợi (beneficiary) là ngƣời bán hay là ngƣời xuất khẩu hàng hóa. Ngân hàng mở hay ngân hàng phát hành thư tín dụng (the issuing bank) là ngân hàng phục vụ ngƣời nhập khẩu, ở bên nƣớc ngƣời nhập khẩu, cung cấp tín dụng cho ngƣời nhập khẩu và là ngân hàng thƣờng đƣợc hai bên nhà nhập khẩu và xuất khẩu thỏa thuận lựa chọn và đƣợc quy định trong hợp đồng thƣơng mại.
Nếu chƣa có quy định trƣớc ngƣời nhập khẩu có quyền lựa chọn. Ngân hàng thông báo thư tín dụng (the advising bank) là ngân hàng phục vụ ngƣời xuất khẩu, thông báo cho ngƣời xuất khẩu biết thƣ tín dụng đã đƣợc mở. Ngân hàng này thƣờng ở nƣớc ngƣời xuất khẩu và có thể là ngân hàng chi nhánh hoặc đại lý của ngân hàng phát hành thƣ tín dụng. Ngoài các bên tham gia vừa đề cập trên đây còn có thể có các ngân hàng khác tham gia trong tín dụng chứng từ này, bao gồm : Ngân hàng xác nhận (the confirming bank) là ngân hàng xác nhận trách nhiệm của mình sẽ cùng ngân hàng mở thƣ tín dụng bảo đảm việc trả tiền cho ngƣời xuất khẩu trong trƣờng hợp ngân hàng mở thƣ tín dụng không đủ khả năng thanh toán.
Ngân hàng xác nhận có thể vừa là ngân hàng thông báo thƣ tín dụng hay là một ngân hàng khác do ngƣời xuất khẩu yêu cầu. Thƣờng là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trƣờng tín dụng và tài chính quốc tế. 3 Ngân hàng thanh toán (the paying bank) là có thể là ngân hàng mở thƣ tín dụng hoặc có thể là ngân hàng khác đƣợc ngân hàng mở thƣ tín dụng chỉ định thay mình thanh toán trả tiền hay chiết khấu hối phiếu cho ngƣời xuất khẩu. Ngân hàng thương lượng (the negotiating bank) là ngân hàng đứng ra thƣơng lƣợng bộ chứng từ và thƣờng cũng là ngân hàng thông báo thƣ tín dụng.
Trƣờng hợp thƣ tín dụng quy định thƣơng lƣợng tự do thì bất kỳ ngân hàng nào cũng có thể là ngân hàng thƣơng lƣợng đƣợc. Tuy nhiên, cũng có trƣờng hợp thƣ tín dụng quy định thƣơng lƣợng tại một ngân hàng nhất định. Ngoài ra còn có các ngân hàng khác như ngân hàng chuyển nhƣợng (the transffering bank), ngân hàng chỉ định (the nominated bank), ngân hàng hoàn trả (the reimbursing bank), ngân hàng đòi tiền (the claiming bank), ngân hàng chấp nhận (the accepting bank), ngân hàng chuyển chứng từ (the remitting bank)… Tất cả đƣợc giao trách nhiệm cụ thể trong thƣ tín dụng. Các qui định quốc tế áp dụng trong tín dụng chứng từ Các qui định quốc tế áp dụng trong tín dụng chứng từ Hoạt động thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ chịu sự điều chỉnh bởi các nguồn luật, công ƣớc quốc tế liên quan và các nguồn luật quốc gia đồng thời nó chịu sự điều chỉnh trực tiếp bởi các thông lệ và tập quán quốc tế, đó là: Qui tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ (viết tắt là UCP) Các hoạt động thanh toán thƣơng mại quốc tế, đặc biệt là các hoạt động liên quan đến tín dụng chứng từ đòi hỏi phải có sự hiểu biết thấu đáo và thống nhất trong phạm vi toàn thế giới.
Để tạo điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng và đẩy mạnh giao lƣu thƣơng mại quốc tế, giúp cho các công ty, các tập đoàn khác nhau ở các quốc gia khác nhau quan hệ buôn bán, thanh toán đƣợc dễ dàng, ICC đã ban hành “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” mà bản sửa đổi mới nhất là UCP600 có hiệu lực từ ngày 1/7/2007 với 39 điều. 4 Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo thư tín dụng (viết tắt là ISBP) Tiếp theo việc ban hành UCP600, ICC đã ban hành một số văn bản hƣớng dẫn kèm theo. Đó là “Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo thƣ tín dụng” - ISBP số 681 năm 2007 thay thế cho bản cũ ISBP số 645 năm 2003. ISBP là sự bổ sung mang tính thực tiễn cho UCP.
ISBP không sửa đổi UCP mà nó giải thích chi tiết và rõ ràng hơn cách áp dụng các quy tắc của UCP trong giao dịch hàng ngày. Nhờ vậy nó sẽ làm giảm sự cách biệt không cần thiết giữa những nguyên tắc chung quy định trong các Quy tắc của UCP và công việc hàng ngày của những ngƣời thực hiện thanh toán bằng tín dụng chứng từ. Thông qua việc sử dụng ISBP, những ngƣời kiểm tra chứng từ có thể thực hiện các công việc của mình phù hợp với tập quán mà đồng nghiệp của họ đang sử dụng trên toàn thế giới. Nhờ đó sẽ giảm đi đáng kể một lƣợng chứng từ bị từ chối thanh toán do có sự khác biệt khi xuất trình lần đầu tiên.
Bản phụ trương UCP600 về việc xuất trình chứng từ điện tử (viết tắt là eUCP) Do trình độ công nghệ hiện đại hóa ngày càng cao nên việc xuất trình chứng từ điện tử ngày càng nhiều. Chính vì vậy ICC đã nghiên cứu và đƣa ra quy định chung cho việc xuất trình chứng từ bằng điện tử. Bản phụ trƣơng này có 12 điều và có một số quy định khác biệt với UCP. Quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo thư tín dụng (viết tắt là URR) Quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo thƣ tín dụng URR đƣợc áp dụng cho các giao dịch hoàn trả giữa các ngân hàng.
Quy tắc này ràng buộc các bên tham gia trừ khi có sự thỏa thuận rõ ràng khác trong Ủy quyền hòan trả. Phiên bản sửa mới nhất là URR725 đƣợc ban hành vào năm 2008. Ngân hàng phát hành thƣ tín dụng có trách nhiệm quy định trong thƣ tín dụng 5 là: “yêu cầu hoàn trả tuân thủ theo URR725”. Trong việc hoản trả tiền giữa các ngân hàng tuân thủ quy tắc này, ngân hàng hoàn trả hành động theo chỉ thị hoặc theo sự ủy quyền của ngân hàng phát hành.
Quy tắc này không loại bỏ hoặc thay đổi các điều khỏan của UCP. Tập quán Thư tín dụng dự phòng (ISP98) Tập quán thƣ tín dụng dự phòng chỉ dùng cho lọai thƣ tín dụng dự phòng và thƣờng áp dụng ở thị trƣờng Mỹ còn UCP thì áp dụng đƣợc cho cả thƣ tín dụng thƣơng mại và thƣ tín dụng dự phòng. Khi áp dụng ISP98 ngƣời ta thƣờng quy định vào trong thƣ tín dụng dự phòng đó là áp dụng theo ISP98 và luật New york. Tính chất pháp lý của các qui định quốc tế áp dụng trong tín dụng chứng từ Trong các thông lệ và tập quán quốc tế, UCP là văn bản chính, còn các văn bản khác có tính chất giải thích và làm rõ việc áp dụng và thực hiện UCP.
Do có nhiều nguồn luật cùng tham gia điều chỉnh, nên cần lƣu ý: Thứ nhất, Trình tự ƣu tiên về tính pháp lý theo thứ tự giảm dần sẽ là công ƣớc và luật quốc tế, luật quốc gia, thông lệ và tập quán quốc tế. Nhƣ vậy, nếu có mâu thuẫn giữa các nguồn luật thì: Luật quốc gia sẽ đƣợc ƣu tiên vƣợt lên trên về tính chất pháp lý đối với Thông lệ và tập quán quốc tế; Công ƣớc và luật quốc tế sẽ đƣợc ƣu tiên vƣợt lên trên về tính chất pháp lý đối với luật quốc gia. Thứ hai, Thông lệ và tập quán quốc tế là những văn bản quy phạm pháp luật tùy ý.