CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÝ CHO HỌC SINH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu nước ngoài TVTL HS hay còn gọi là tư vấn HS là một ngành khoa học hỗn hợp giữa tâm lý học chức năng và tâm lý học lâm sàng được xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Theo tác giả Phillips thì ngành học này ra đời từ sự quan tâm nghiên cứu của các nhà tâm lý học trường học với các lĩnh vực về hành vi, quá trình học hỏi, hay các rối nhiễu tâm lý xuất hiện ở trẻ em, HS.
Trong khi các nhà tâm lý học lâm sàng cũng làm công việc nghiên cứu, điều trị cho các phạm trù tâm lý đó để giúp cuộc sống cộng đồng tốt hơn, thì các nhà Tâm lý học trường học giúp cho quá trình học tập của HS trở nên hiệu quả, chất lượng hơn. Một sự kiện quan trọng đặt nền tảng ra đời cho ngành tâm lý học trường học là Hội nghị Thayer. Năm 1954, Hiệp hội Tâm lý học Hoa kỳ (APA) đã tổ chức một hội nghị kéo dài 9 ngày tại khách sạn Thayer, New York để bàn về tương lai, chức năng và sự cần thiết phải thiết lập các chuẩn mực về đào tạo và cấp phép hành nghề cho các nhà tâm lý học trường học. Trong đó, mục tiêu ưu tiên của hội nghị Thayer là định nghĩa cho được nội hàm khái niệm về chuyên viên tâm lý trường học.
Khi hội nghị kết thúc cũng đã đưa ra được định nghĩa chuyên viên tâm lý trường học là những là tâm lý được đào tạo đặc thù trong giáo dục học, có kiến thức và kỹ năng chuyên biệt về đánh giá quá trình học tập ở HS. Họ cũng đồng thời sử dụng kiến thức và kỹ năng của mình để giúp cho ngôi trường, nơi họ làm việc, hình thành môi trường học tập chất lượng, hiệu quả; và giúp các em HS trong việc giải đáp các nhu cầu về tâm lý. Ngoài ra, hội nghị này còn đặt ra các chuẩn mực quan trọng về đào tạo và công nhận hành nghề Tâm lý học trường học là nhà tâm lý phải tốt nghiệp chương trình nghiên cứu sinh hoặc 2 năm đào tạo chuyên biệt về Tâm lý học trường học. Tuy nhiên, cho đến ngày nay thì APA chỉ công nhận hành nghề cho ứng viên đã tốt nghiệp tiến sĩ tâm lý, điều này cho thấy sự đánh giá về tầm quan trọng của công tác tâm lý trong HS.[30] Một nhà nghiên cứu khác thì lại quan tâm tới những chủ thể còn lại trong trường học như các nhà quản lý, GV, và CMHS, ông là TS.
Granville Stanley Hall - chủ tịch đầu tiên của APA. Các công trình nghiên cứu của ông xem xét quá trình học tập của HS là một chuyển động tương tác với các chủ thể khác trong trường học như nhà quản lý, GV, và trong gia đình là bố mẹ. Hall phát triển các khái niệm quan trọng như “thế nào là học sinh ngoan”, khi ông nghiên cứu cả ảnh hưởng di truyền và môi trường, trong đó có trường học, tới quá trình học tập của HS. Người được công nhận là nhà tâm lý học trường học đầu tiên ở Mỹ là Arnold 7 Gesell.
Ông tìm cách kết nối các phạm trù về quá trình học tập của HS với Tâm lý học lâm sàng, hay giáo dục chuyên biệt. Gesell đặc biệt thành công khi pha trộn được tâm lý học và Giáo dục học tạo thành cơ sở để phát triển các kỹ thuật đánh giá quá trình học tập của HS. Có thể nói ông là người mở đường cho sự phát triển của tâm lý học trường học. Tác giả Gertrude Hildreth là người đầu tiên viết sách về tâm lý học trường học với nhan đề “Công tác tâm lý cho các vấn đề của trường học (Psychological Service for School Problems)”.
Nội dung chính của quyển sách này là việc áp dụng tâm lý học, tâm lý học giáo dục trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong trường học và nâng cao chất lượng quá trình học tập của HS. Cô đã đề cập 11 vấn đề nổi trội trong trường học, trong đó có thể kể đến như: khả năng truyền đạt trên lớp học, đánh giá kết quả học tập, phát triển chương trình học…Nhưng quan điểm then chốt mà Hildreth nhiều lần đề cập là sự phát triển sức khoẻ tinh thần của HS luôn gắn liền với GV và phụ huynh. Các chủ thể này tương tác với nhau tuỳ theo tần số và mức độ qua nhiều loại hoạt động từ đó phát sinh các mối quan hệ là nền tảng để xuất hiện các vấn đề tâm lý. Vì vậy, để hoạt động học và dạy được tiến hành hiệu quả, công tác tâm lý học trường học đóng vai trò điều chỉnh tích cực các mối quan hệ, giải quyết các vấn đề tâm lý phát sinh, thúc đẩy tinh thần để HS học tập.
Để thực hiện được nhiệm vụ đó, tâm lý học trường học và các chuyên viên tư vấn tâm lý học trường học cần bao quát và đạt một số tiêu chuẩn nhất định, có thể kể đến: NASP đã phát triển một mô hình cho công tác tâm lý học trường học được gọi là Mô hình NASP cho Dịch vụ tâm lý HS toàn diện và tích hợp (The NASP Model for Comprehensive and Integrated School Psychological Services), gọi tắt là mô hình thực hành NASP. Đây là một trong số các mô hình chuẩn mực, chi tiết về tâm lý học trường học được phát triển tính đến thời điểm hiện nay. Mô hình thực hành NASP không bắt buộc các cơ sở giáo dục thực hiện theo, nhưng tạo ra một hệ thống chuẩn mực tham khảo để thúc đẩy tính hiệu quả về nhiều mặt của hoạt động tâm lý học trường học mà các cơ sở giáo dục dự định triển khai. Tâm lý học trường học có tiến trình phát triển khá phức tạp.
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, tâm lý học trường học có những bước thăng trầm. Có nhiều nền tảng để xem xét về sự phát triển của tâm lý học trường học nhưng một nền tảng cơ bản của tâm lý học trường học đó chính là tư vấn HS. Vì thế, cần xem xét và phân tích dựa trên những dữ liệu theo định hướng này khi tổng quan vấn đề nghiên cứu về tâm lý học trường học. Hiện nay các nghiên cứu về TVTL HS được triển khai theo các hướng: - Nghiên cứu các vấn đề tâm lý nảy sinh ở HS: các vấn đề về hành vi, xúc cảm, học tập.
8 - Nghiên cứu về các chương trình can thiệp, hỗ trợ HS. - Nghiên cứu về các mô hình cung cấp dịch vụ. - Nghiên cứu các nhu cầu tư vấn của HS. - Nghiên cứu về cách thức Quản lý và mô hình Quản lý hoạt động TVTL HS.
Với hướng nghiên cứu về mô hình và cách thức Quản lý hoạt động TVTL HS cũng có nhiều cách tiếp cận và hướng nghiên cứu: - Nghiên cứu vận hành các phòng TVTL và Quản lý các phòng này trong mỗi nhà trường. - Nghiên cứu mô hình cung ứng dịch vụ, Quản lý hoạt động theo khu vực. Nghiên cứu trong nước Trong sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung và sự nghiệp giáo dục nói riêng, tâm lý học trường học đóng một vai trò vô cùng quan trọng vì đối tượng nghiên cứu, mục tiêu phục vụ của nó gắn liền với sự nghiệp giáo dục và phát triển con người. Cụ thể, nhiệm vụ của tâm lý học trường học chỉ ra các lý thuyết và phương pháp có thể được ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả học tập và giáo dục cho từng HS cũng như cho toàn thể lớp học, qua đó nâng cao hiệu quả của chính quá trình dạy học.
Song song đó, tâm lý học trường học đảm nhiệm khá nhiều nhiệm vụ giáo dục trong trường học, HS. Vì thế, việc lược sử nghiên cứu vấn đề này sẽ tập trung vào công tác tâm lý học trường học từ khởi thủy, sau đó là ảnh hưởng cũng như vai trò của tâm lý học trường học đến giáo dục hay vai trò của nó đối với giáo dục và vấn đề phát triển tâm lý học trường học trên bình diện chung nhất. Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, chương trình Khải đạo HS đã được triển khai trong các trường học. Sau ngày thống nhất đất nước, với sự thay đổi gần như hoàn toàn cách thức tiếp cận của giáo dục, chương trình khải đạo đã không còn tồn tại trong các trường học với đúng nghĩa của nó.
Vào cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, các nghiên cứu tâm lý học trường học được đặt trong công tác giáo dục dài hạn trước đó vẫn tiếp tục được triển khai, đồng thời nghiên cứu những vấn đề mới, trong đó nổi bật là việc triển khai thực hiện dự án quốc tế về “Giáo dục dân số và đời sống gia đình” (VIE/88/P09) dưới sự chỉ đạo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Minh và cộng sự. Đây là công trình hợp tác quốc tế quy mô đầu tiên của Viện KHGD trong lĩnh vực tâm lý học trường học. Lần đầu tiên, một chương trình giáo dục giới tính và đời sống gia đình đã được nghiên cứu, soạn thảo và đưa vào nhà trường phổ thông ở Việt Nam để giáo dục và phát triển HS. Song song đó, vấn đề tư vấn và hỗ trợ tâm lý cho HS trong HS cũng bắt đầu nhận được sự quan tâm nhất định.
Trong những năm tiếp theo, trước yêu cầu phổ cập giáo dục bậc Tiểu học và THCS, các nghiên cứu tâm lý học trường học dần đi vào chiều sâu. Hàng loạt đề tài nghiên cứu về lứa tuổi học sinh Tiểu học và THCS đã đề cập đến các đặc điểm phát triển sinh, tâm lý khác nhau của HS, như: “Một số đặc điểm tâm lý và trình độ phát triển trí tuệ của học sinh Tiểu học”, “Đặc điểm tự đánh giá của học sinh Tiểu học”, 9 “Nghiên cứu sức làm việc trí óc của học sinh cấp I theo lứa tuổi”, “Sự phát triển trí nhớ trong học tập của học sinh phổ thông cơ sở”, “Tuổi dậy thì của HS một số tỉnh và thành phố những năm 1978 - 1988”, “Tìm hiểu sự phát triển trí tuệ của HS bằng trắc nghiệm Raven”; “Ảnh hưởng của hoạt động tập thể và những mối quan hệ giao lưu nhóm đối với sự hình thành một số phẩm chất nhân cách XHCN ở HS thiếu niên”… Những nghiên cứu này phục vụ cho công tác dạy học ở một mức độ nhất định nhưng có thể nói, vấn đề ứng dụng kết quả nghiên cứu để giáo dục HS, triển khai công tác giáo dục HS hiệu quả rất được quan tâm.