CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Quan hệ tín dụng đã có từ rất lâu trong lịch sử phát triển của xã hội. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, hình thức biểu hiện của tín dụng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, do vậy trên thực tế các nhà kinh tế cũng có nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm về tín dụng.
Tuy nhiên dưới hình thức nào thì quan hệ này cũng bộc lộ chung một bản chất và có thể hiểu tín dụng một cách tổng quát như sau: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Có nhiều loại tín dụng, như là tín dụng nhà nước, tín dụng doanh nghiệp, tín dụng cá nhân và tín dụng ngân hàng. Nguyễn Văn Tiến (2010, tr. 350) đã đưa ra khái niệm: “Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”.
Có thể nói, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng tài sản (vốn) giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế mà ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay (con nợ) và vừa là người cho vay (chủ nợ). Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của các NHTM. Dư nợ tín dụng thường chiếm trên 50% tổng tài sản, thu nhập từ tín dụng thường chiếm từ 60% - 70% tổng thu nhập của NHTM. Bên cạnh việc mang lại thu nhập chính cho ngân hàng thì rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng có xu hướng tập trung Luan van 6 vào hoạt động này.
Chính vì vậy mà hoạt động tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất của các NHTM. Tín dụng ngân hàng bao gồm các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính. Vì vậy, tín dụng là một khái niệm rộng hơn cho vay bởi nó bao hàm cả cho vay, tuy nhiên trong hoạt động tín dụng thì nghiệp vụ cho vay lại là nghiệp vụ quan trọng nhất, cơ bản nhất và chiếm tỷ trọng lớn ở hầu hết các NHTM. Do đó, thuật ngữ tín dụng và cho vay thường được dùng thay thế cho nhau.
Phân loại tín dụng ngân hàng Nhằm bắt kịp xu thế phát triển của thị trường, cũng như đảm bảo đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh mà các NHTM luôn nghiên cứu, đưa ra và phát triển các hình thức tín dụng đa dạng. Việc phân loại tín dụng trở nên cần thiết và được thực hiện một cách khoa học để xây dựng các quy trình cho vay phù hợp và nâng cao hiệu quả công tác quản lý RRTD. Phân loại tín dụng dựa vào 5 căn cứ sau: Căn cứ vào hình thức tín dụng Cho vay: Là việc ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để khách hàng sử dụng vào mục đích và thời gian theo thỏa thuận của đôi bên với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, bao gồm: Cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay trả góp, cho vay đồng tài trợ, cho vay luân chuyển chứng từ. Chiết khấu: Nếu các giấy tờ có giá (trái phiếu, thương phiếu.) chưa đáo hạn thì ngân hàng có thể cấp cho khách hàng một khoản tiền bằng mệnh giá của giấy tờ có giá trừ đi lãi chiết khấu và phí hoa hồng.
Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Phân theo mục tiêu có các loại bảo lãnh như sau: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán. Bao thanh toán: Là việc ngân hàng tự bỏ tiền ra mua tài sản cố định cho Luan van 7 khách hàng thuê với những điều kiện nhất định và có thời hạn cam kết sao cho ngân hàng phải thu gần đủ (hoặc thu đủ) giá trị của tài sản cho thuê và có lãi. Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó.
Cho thuê tài chính: Là việc ngân hàng bỏ tiền mua các tài sản để cho khách hàng thuê theo sự thỏa thuận của hai bên. Đây là hoạt động tín dụng trung, dài hạn trên cơ sở các hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là Ngân hàng với các khách hàng thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê khách hàng có thể mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện thỏa thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn cho thuê không được đơn phương hủy hợp đồng.
Căn cứ vào mục đích tín dụng Căn cứ vào mục đích cho vay, hoạt động tín dụng có thể chia thành: - Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh: Là loại hình cho vay đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. - Tín dụng phục vụ tiêu dùng: Là loại hình cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cá nhân Căn cứ vào thời hạn tín dụng Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn cho vay đến 12 tháng (dưới 1 năm), chủ yếu được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Tín dụng trung hạn: Có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng (trên 1 năm - 5 năm), thường được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh. Tín dụng dài hạn: Có thời hạn cho vay trên 60 tháng (trên 5 năm), thường được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
Căn cứ theo đối tượng khách hàng vay vốn Tín dụng đối với cá nhân: là loại hình cho vay để bù đắp nhu cầu tiêu Luan van 8 dùng cá nhân. Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tuỳ theo mục đích sử dụng vốn vay và nguồn trả nợ của cá nhân. Tín dụng đối với tổ chức/doanh nghiệp: là loại hình cho vay để phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tuỳ vào nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
Căn cứ vào tính chất bảo đảm của khoản tín dụng Tín dụng đảm bảo bằng tài sản: các khoản vốn tín dụng phát ra đều có hàng hóa, vật tư tài sản tương đương đảm bảo Tín dụng không có tài sản đảm bảo: các khoản tín dụng phát ra không cần có hàng hóa, vật tư, tài sản đảm bảo mà chỉ dựa vào uy tín, sự tín nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân để cấp vốn tín dụng. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng Tín dụng trực tiếp: là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay cũng là người trực tiếp trả nợ. Tín dụng gián tiếp: là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay và người trả nợ là hai đối tượng khác nhau Ngoài ra còn có thể phân chia loại hình tín dụng theo phương pháp hoàn trả, mục đích vay vốn,… 1. Vai trò của tín dụng ngân hàng Đối với nền kinh tế - Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất - Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ của nền kinh tế tạo cơ chế phân phối vốn một cách có hiệu quả.
- Tín dụng ngân hàng góp phần kiểm soát và giám đốc bằng đồng tiền đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. - Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong tổ chức điều hòa lưu thông tiền tệ. Luan van 9 - Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, là động lực đối với việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế. - Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế Đối với ngân hàng thương mại - Tín dụng là hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng.
- Thông qua hoạt động tín dụng mà ngân hàng đa dạng hoá danh mục tài sản có, giảm thiểu rủi ro. - Thông qua hoạt động tín dụng mà ngân hàng mở rộng được các loại hình dịch vụ khác như thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn. Đối với khách hàng - Giúp cho khách hàng có nguồn vốn tiếp tục kinh doanh và mở rộng sản xuất. - Giúp cho doanh nghiệp sử dụng và quản lý vốn có hiệu quả.
- Tác động tích cực đến nhịp độ phát triển, thúc đẩy cạnh tranh. - Góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu vốn cho doanh nghiệp. Rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro là sự không chắc chắn liên quan đến tổn thất sẽ gánh chịu trong tương lai.
Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Do đặc điểm về đối tượng kinh doanh, về tính hệ thống nên kinh doanh ngân hàng rủi ro cao hơn gấp bội phần so với các lĩnh vực kinh doanh khác. Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng có nhiều loại rủi ro.