MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong thời gian qua, đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, ngành Bƣu chính Viễn thông nói chung và ngành Viễn thông nói riêng đã có những bƣớc phát triển vƣợt bậc, đƣợc đánh giá là một trong những ngành đi đầu trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Song song với việc mở rộng mạng lƣới đến tận vùng sâu vùng xa, biên giới hay hải đảo phục vụ thông tin liên lạc cho cấp ủy Đảng, Chính quyền, ngành Viễn thông còn mang trọng trách phục vụ nhu cầu thông tin liên lạc cho nhân dân với nhiều dịch vụ mới, phong phú về loại hình, chất lƣợng đảm bảo theo tiêu chuẩn Liên minh viễn thông thế giới (ITU), đáp ứng đƣợc đòi hỏi ngày càng cao của xã hội, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trƣởng kinh tế quốc gia. Từ năm 1995 đến nay, dƣới sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nƣớc, ngành viễn thông đã từng bƣớc chuyển dần từ môi trƣờng kinh doanh độc quyền sang môi trƣờng thị trƣờng cạnh tranh, các doanh nghiệp cung cấp hạ tầng viễn thông, dịch vụ viễn thông tăng nhanh.
Cùng với đó là việc Nhà nƣớc cho phép và tạo cơ chế đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ mới vào trong ngành viễn thông và công nghệ thông tin làm cho các doanh nghiệp viễn thông bắt kịp đƣợc với cả xu hƣớng của thế giới. Đến năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) với những cam kết mở cửa thị trƣờng dịch vụ viễn thông cho các doanh nghiệp nƣớc ngoài. Điều này đòi hỏi công tác quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực viễn thông càng phải đƣợc nâng cao, phù hợp với thông lệ, tiêu chuẩn quốc tế, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, phát huy tối đa các nguồn lực, tận dụng sự phát triển của khoa học công nghệ, nhằm góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập và phát triển của Việt Nam lên một tầm cao mới. Cùng với sự phát triển của cả nƣớc, trong những năm qua, Tỉnh Hà 1 z Tĩnh đã có những bƣớc chuyển dịch mạnh mẽ, đặc biệt là phát triển kinh tế.
Với những lợi thế về tự nhiên nhƣ có đƣờng biển dài, có cảng nƣớc sâu tự nhiên, có đƣờng biên giới với nƣớc bạn Lào, hiện tại Hà Tĩnh đang nỗ lực cố gắng chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ với những điểm nhấn nhƣ Khu Kinh tế Vũng Áng, Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo. Ngày 27 tháng 11 năm 2012, Thủ tƣớng chính phủ đã ký quyết định số 1786/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 trong đó chỉ rõ định hƣớng phát triển “từng bƣớc xây dựng Hà Tĩnh trở thành một trong những trung tâm công nghiệp lớn của cả nƣớc”. Đối với lĩnh vực thông tin – truyền thông là một trong tám ngành, lĩnh vực đƣợc quan tâm đầu tƣ, nâng cấp, mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cơ quan Nhà nƣớc, doanh nghiệp cũng nhƣ ngƣời dân Hà Tĩnh. Tỉnh Hà Tĩnh đang là một trong những tỉnh nghèo của cả nƣớc, trong chiến lƣợc phát triển đã chỉ rõ cần phải phát huy tối đa lợi thế tự nhiên, nhƣng về mặt lâu dài, việc chuyển hƣớng sang các lĩnh vực khoa học, công nghệ, dịch vụ trong đó có ngành viễn thông nhằm đƣa Hà Tĩnh có những bƣớc phát triển ổn định, bền vững đang là một trong những vấn đề cấp bách của tỉnh nhà.
Năm 2004, tỉnh Hà Tĩnh thành lập Sở Thông tin truyền thông nhằm tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc về viễn thông cũng nhƣ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn phát triển đúng theo quy hoạch, phù hợp với tình hình địa phƣơng. Kể từ thời điểm này trở đi, những đóng góp của ngành viễn thông cho tỉnh Hà Tĩnh là rất đáng ghi nhận, các chỉ số về máy điện thoại trên một trăm dân, chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin, nộp thuế của các doanh nghiệp viễn thông ngày càng nhiều, các ứng dụng về viễn thông – công nghệ thông tin đƣợc triển khai đồng bộ tập trung cho công tác cải cách hành chính, ngoài ra các cơ quan, doanh nghiệp, ngƣời dân đƣợc sử dụng những dịch vụ viễn thông mới nhất, có chất lƣợng ngày càng cao. 2 z Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của tỉnh Hà Tĩnh, công tác quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực viễn thông đang tồn tại những bất cập trên các mặt: cơ sở hạ tầng viễn thông không đồng bộ với hạ tầng giao thông, công tác sử dụng chung cơ sở hạ tầng chƣa đƣợc quan tâm đúng mức làm lãng phí nguồn lực của xã hội; các dịch vụ nội dung đặc biệt là game online chƣa đƣợc giám sát chặt chẽ; việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp viễn thông chƣa đƣợc chấn chỉnh. Những tồn tại nêu trên dẫn đến cần phải nâng cao công tác quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực viễn thông, đảm bảo việc phát triển đúng định hƣớng, phù hợp với quy hoạch cũng nhƣ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp viễn thông phát triển và đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời dân về các dịch vụ viễn thông tại tỉnh Hà Tĩnh.
Từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc lĩnh vực viễn thông, đánh giá thực trạng tại tỉnh Hà Tĩnh và đƣa ra các khuyến nghị cho tỉnh nhà là rất cần thiết. Đề tài “Quản lý nhà nƣớc về viễn thông tại tỉnh Hà Tĩnh” đƣợc tác giả lựa chọn với câu hỏi nghiên cứu chính là: Nhà nƣớc phải quản lý nhƣ thế nào để lĩnh vực viễn thông tại tỉnh Hà Tĩnh phát triển ? 2. Tình hình nghiên cứu: Trong thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu về công tác quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực viễn thông. Sách “Quản lý nhà nƣớc về bƣu chính, viễn thông và công nghệ thông tin”, TS Lê Minh Toàn, NXB Chính trị quốc gia, năm 2012 đề cập đến các nội dung cơ bản liên quan đến công tác quản lý nhà nƣớc về bƣu chính, viễn thông, công nghệ thông tin bao gồm: hệ thống cơ quan quản lý, quản lý nhà nƣớc về bƣu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, tần số vô tuyến điện, internet, thanh tra và xử lý vi phạm về thông tin và truyền thông.
Cuốn sách này cũng đã hệ thống hóa lịch sử ngành Bƣu chính Viễn thông Việt Nam từ năm 1945 đến nay, 3 z nêu bật những chính sách của nhà nƣớc đối với ngành Bƣu chính Viễn thông theo từng giai đoạn: từ năm 1945 đến 1995 ngành Bƣu điện vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc vừa thực hiện nhiệm vụ đảm bảo cung cấp dịch vụ Bƣu chính viễn thông cho Nhà nƣớc, doanh nghiệp, ngƣời dân; đến sau năm 1995, Nhà nƣớc chủ trƣơng cho phép cạnh tranh trong lĩnh vực Bƣu chính viễn thông, vì thế cần phải tách bạch chức năng quản lý nhà nƣớc ra khỏi ngành Bƣu điện; đến năm 1996 Nhà nƣớc chủ trƣơng thành lập Tổng cục Bƣu điện nhằm thống nhất công tác quản lý lĩnh vực bƣu chính viễn thông, là cơ sở để sau này thành lập Bộ Thông tin truyền thông. Giáo trình “Quản lý nhà nƣớc về Bƣu chính viễn thông và công nghệ thông tin”, Ths Dƣơng Hải Hà, Học viện Bƣu chính Viễn thông, Hà Nội, năm 2007 cung cấp nội dung liên quan đến công tác quản lý nhà nƣớc về kinh tế, tập trung vào từng lĩnh vực bƣu chính, viễn thông và công nghệ thông tin, cơ sở lý luận chủ yếu dựa vào Pháp lệnh Bƣu chính viễn thông năm 2002. Lịch sử Bƣu điện Việt Nam, TS Mai Liêm Trực; GS, TS Đỗ Trung Tá, NXB Bƣu điện, năm 2002. Các tác giả đã tập trung làm rõ quá trình phát triển của Bƣu điện Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2000, trong đó nêu rõ đặc điểm của ngành Bƣu điện qua thời kỳ độc quyền nhà nƣớc đến thời kỳ cạnh tranh, vừa mang tính chất phục vụ Nhà nƣớc và xã hội, vừa mang tính chất quản lý nhà nƣớc.
Đặc biệt, cuốn sách này cung cấp cho ngƣời đọc những văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nƣớc đối với ngành bƣu chính, viễn thông qua các thời kỳ. Luận án Tiến sỹ “Phát triển ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020” Trần Đăng Khoa, Trƣờng Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh năm 2007. Tác giả đã tập trung phân tích thực trạng của ngành viễn thông Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2006, dự báo tính toán về số lƣợng thuê bao tăng trƣởng, kết hợp với xu hƣớng công nghệ thế giới, từ đó đƣa ra các khuyến nghị về mục tiêu tăng trƣởng của ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020 cũng nhƣ 4 z đề xuất các chính sách liên quan đến công tác quản lý, hoạch định chính sách, thu hút vốn, nguồn lực cho việc phát triển ngành viễn thông Việt Nam. Báo cáo đề tài khoa học và công nghệ “Nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức cơ quan quản lý viễn thông Việt Nam” do Nguyễn Tiến Sơn – Cục Viễn thông – Bộ Thông tin truyền thông chủ trì nghiên cứu, đề xuất năm 2011.
Tác giả nghiên cứu hiện trạng cơ quan quản lý viễn thông tại Việt Nam, mô hình của một số nƣớc nhƣ Anh, Singapore, Malaysia, Trung Quốc, khuyến nghị của ITU, từ đó đƣa ra đề xuất thành lập cơ quan quản lý viễn thông tại Việt Nam. Báo cáo đề tài khoa học và công nghệ “Nghiên cứu xu hƣớng phát triển mạng xã hội và đề xuất chính sách định hƣớng phát triển mạng xã hội tại Việt Nam” do Đỗ Công Anh - Viện chiến lƣợc thông tin và truyền thông – Bộ Thông tin và truyền thông nghiên cứu, đề xuất năm 2011. Tác giả đã phân tích xu hƣớng sử dụng mạng xã hội sẽ đƣợc phổ biến rộng rãi, những tác động của mạng xã hội đến ngƣời dùng, đặc biệt trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, so sánh với công tác quản lý mạng xã hội ở một số quốc gia nhƣ Hàn Quốc, Trung Quốc, EU .v từ đó tác giả đƣa ra các khuyến nghị về chính sách quản lý đối với mạng xã hội nhƣ bổ sung thêm các thông tƣ nghị định về quản lý nội dung trên mạng xã hội, sử dụng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế tác động xấu của mạng xã hội đối với tình hình an ninh chính trị tại Việt Nam. Báo cáo đề tài khoa học và công nghệ “Nghiên cứu đề xuất chính sách quản lý Internet phù hợp với quy định mới của pháp luật về viễn thông” do Nguyễn Thành Chung – Cục Viễn thông chủ trì nghiên cứu năm 2011.