CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG MARKETING TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG 1.Các khái niệm và đặc điểm viễn thông “* Khái niệm về viễn thông: theo Luật Viễn thông được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2009, Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác.“ * Đặc điểm về viễn thông: Về cơ bản, Viễn thông gồm ba thành phần chính: - Thiết bị phát: tiếp nhận thông tin, xử lý và phát tín hiệu. - Môi trường truyền dẫn: đảm bảo việc thông tin truyền đến nơi yêu cầu. 6 - Thiết bị thu: nhận tín hiệu đến và xử lý chuyển thành thông tin có ích.Khái niệm quản lý Nhà nước về viễn thông “Quản lý Nhà nước về viễn thông là sự tác động có tổ chức, có mục đích của Nhà nước lên hoạt động viễn thông để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh.“ “ Quản lý nhà nước về viễn thông là sự tác động có tổ chức, có mục đích của Nhà nước lên hoạt động viễn thông để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh.Quản lý nhà nước trong lĩnh vực viễn thông cũng như bất kỳ dạng quản lý công vụ của bộ máy hành pháp, mang tính quyền lực, tính tổ chức cao, được điều chỉnh bằng pháp luật, vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù quản lý ngành.Khái niệm quản lý Nhà nước về Theo Shawn Dill và Lacey Book (2016): Quản lí nhà nước là hoạt động thực thì quyển lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định và phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi. Quản lí nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất.
Theo nghĩa hẹp là hướng dẫn chấp pháp, điểu hành, quản lí hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Quản lí tài sản là quá trình quản lí nhà nước bắt đầu từ việc xác định mục tiêu đến khi đạt được hiệu quả thực tế, tạo thành một chu kì quản lí, liên tục nối tiếp nhau. Quản lí xuất hiện trong mọi tổ chức, tập thể có hoạt động chung. Chủ thể quản lí nhà nước là cơ quan hay cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, được sử dụng quyển lực nhà nước để quản lí.
Pháp luật là công cụ chủ yếu của quản lí nhà nước. Đối tượng quản lí nhà nước là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong một quốc gia, là sinh hoạt, đời sống của xã hội diễn ra trên từng lĩnh vực. Quản lí nhà nước được giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và được phân biệt với quản lí mang tính chất nội bộ một tổ chức xã hội, đoàn thể, đơn vị, xí nghiệp, một cộng đồng dân cư mang tính tự quản. Theo Ken Langdon (2009): Viễn thông có thể coi là một ngành độc quyền, chính xác hơn là bán độc quyền và việc kinh doanh dịch vụ viễn thông cũng có những đặc điểm riêng biệt.
Có lý do để chính phủ các nước duy trì phần nào đó độc 7 quyền cho ngành này mà chủ yếu là vì chi phí cơ sở hạ tầng quá lớn đối với tầm cỡ của một công ty. Chi phí để thiết lập một mạng lưới Viễn thông quốc gia là rất lớn và nhìn chung những chi phí này lớn hơn rất nhiều khoản lợi nhuận mà một công ty có thể kỳ vọng đạt được trong kế hoạch ngắn hạn hay trung hạn. Trước khi tiến hành kinh doanh dịch vụ viễn thông, các công ty phải được cấp quyền và phép truy cập hữu tuyến tới từng gia đình, doanh nghiệp và các tổ chức chính phủ hay phi chính phủ trong phạm vi một quốc gia. Tiếp đến họ phải xây dựng nút điểm, các tuyến truyền dẫn để truyền tải lưu lượng.
Sau đó là thiết lập các tổng đài, phải có nhân viên khai thác và rất nhiều loại cơ sở hạ tầng và một loạt các dịch vụ hỗ trợ khác. Ngoài ra, vì mục tiêu phát triển chung của toàn quốc gia, việc xây dựng một mạng lưới viễn thông liên lạc cho toàn đất nước là điều không thể không làm. Tuy nhiên, trong một quốc gia, bên cạnh những đô thị kinh tế phát triển sôi động, mức sống và thu nhập cao với khả năng chi trả lớn thì còn không ít vùng sâu, vùng xa hẻo lánh chưa được đô thị hóa, dân cư thưa thớt và kinh tế còn kém phát triển. Chắc chắn các nhà mạng chỉ tập trung đầu tư vào những vùng trọng điểm vì mục tiêu lợi nhuận được đặt lên hàng đầu tại những nơi hẻo lánh như vậy.
Chỉ có Chính phủ mới có thể đứng ra đảm nhiệm việc này vì mục tiêu đầu tiên là phát triển chung và chấp nhận lỗ trong một thời gian không ngắn. Việc duy trì độc quyền ở một mức độ nào đó trong ngành viễn thông đang được điều chỉnh để chuyển sang cạnh tranh. Tuy nhiên mức độ ở mỗi nước một khác và còn tùy thuộc vào chính sách của mỗi quốc gia cũng như điều kiện thực tế tại từng nước.Có thể hiểu: Quản lý nhà nước là sự chỉ huy,điều hành để thực thi quyền lực nhà nước, do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành để tổ chức và điều chỉnh các quá trình xã hôi, và hành vi hoạt động của công dân. * Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước trong hoạt động viễn thông: - Môi trường vĩ mô: gồm các yếu tố + Địa lý và thời tiết + Dân số + Kinh tế + Cơ chế chính sách 8 + Khoa học kỹ thuật công nghệ - Môi trường vi mô: + Các doanh nghiệp viễn thông + Các khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thông * Tầm quan trọng của quản lý nhà nước trong hoạt động viễn thông: “Từ năm 2003 đến nay, với chính sách mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế cùng xu hướng hội tụ về công nghệ, thị trường VT Việt Nam đã bùng nổ đầy tính cạnh tranh, với sự xuất hiện của nhiều doanh nghiệp viễn thông.
Thị trường dịch vụ VT đã phát triển rất nhanh với mức độ cạnh tranh cao đòi hỏi cần tăng cường năng lực cho công tác trọng tài, quản lý thị trường, giải quyết tranh chấp giữa các doanh nghiệp VT nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng. Vì vậy nâng cao công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực VT là rất cấp thiết.Khái niệm marketing viễn thông Theo Philip Kotler Nancy Lee (2004): “Marketing là một triết lý kinh doanh được thâm nhập vào Việt Nam chỉ trong gần 2 thập kỷ trở lại đây. Thông thường khi nói đến marketing, người ta sẽ nghĩ ngay đến việc làm thế nào để tiêu thụ hàng hóa và thu được tiền về cho người bán. Tuy nhiên, tiêu thụ chỉ là một khâu trong các hoạt động của marketing, mà hơn nữa, đó lại không phải là khâu quan trọng nhất.” Theo quan điểm hiện đại thì "Marketing là làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi với mục đích thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người".
Nhu cầu và mong muốn của con người đây chính là về hàng hóa và dịch vụ để thu được một tiện ích nhất định. “Marketing dịch vụ cũng được coi là một phần rất quan trọng của marketing nói chung bởi vì trong thời đại ngày nay, marketing dịch vụ và marketing hàng hóa có xu hướng đồng nhất và bổ trợ lẫn nhau. hàng hóa luôn được đi kèm cùng dịch vụ và đôi lúc khó có thể phân biệt được. Trong hầu hết các ngành sản xuất kinh doanh, người ta không chỉ đơn thuần bán hàng hóa mà còn bao gồm trong đó cả dịch vụ đi kèm.
Hơn nữa, có rất nhiều ngành sản xuất kinh doanh lại có đối tượng kinh doanh chính là dịch vụ như: Viễn thông, Giao thông viễn thông, du lịch, y tế. Chính vì vậy mà việc đưa ra một khái niệm đúng đắn về marketing dịch vụ để có thể vận dụng trong sản xuất kinh doanh là điều rất cần thiết. Marketing dịch vụ được hiểu là "Một dạng hoạt động của con người (bao gồm cả tổ chức) nhằm thỏa mãn tốt nhất 9 các nhu cầu và mong muốn về một dịch vụ nào đó thông qua trao đổi " (Philip Kotler(2006)). Như vậy, về cơ bản, marketing dịch vụ và marketing hàng hóa đều nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu và mong muốn của con người nhưng marketing dịch vụ sẽ có những đặc thù riêng có so với marketing hàng hóa.“ “Marketing dịch vụ viễn thông là quá trình đổi mới, sáng tạo nhằm tăng cường tăng cường hiệu quả bán hàng, giúp người dùng biết đến và tiếp cận với các dịch vụ viễn thông nhiều hơn.
Về cơ bản, giống như trong các ngành khác, marketing dịch vụ viễn thông chính là phân tích tất cả các yếu tố đầu vào khác nhau nhưng có chung một điểm là ảnh hưởng tới doanh nghiệp viễn thông và chuyển nó thành nguyên liệu để xây dựng và thực hiện các chiến lược marketing.Chiến lược Marketing của công ty viễn thông có thể trong ngắn hoặc dài và trung hạn tùy thuộc vào dòng sản phẩm, tình hình thị trường và từng phân đoạn thị trường cũng như mục tiêu của công ty. Thông thường, các chiến lược sẽ nhằm vào sản phẩm, giá cả, công nghệ nhằm mục tiêu cạnh tranh (Ken Langdon (2009)).Mối quan hệ giữa quản lý Nhà nước và marketing “Xét trên phương diện quản lý nhà nước về marketing cũng đã làm được khá nhiều việc để đưa hoạt động này vào nề nếp và thúc đẩy nó phát triển, song cũng không ít vấn đề còn phải tiếp tục trao đổi, bàn luận và khắc phục. Dưới đây là một số vấn đề chủ yếu.“ “Thứ nhất, Nhà nước mới chỉ tập trung sự chú ý vào việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh và hướng dẫn, chứ chưa quan tâm nhiều đến việc đầu tư, hỗ trợ cho hoạt động marketing của các doanh nghiệp. Trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cũng đang tồn tại một số thiếu sót.“ “Thứ hai, việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về marketing hầu như rất ít được chú trọng.
Bởi vậy, các văn bản này chủ yếu mới chỉ tồn tại trên giấy tờ mà chưa thực sự đi vào cuộc sống.