Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài - Nhóm công trình nghiên cứu về thị trường liên ngân hàng James Chen (2019), nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm TTLNH: (i). TTLNH là mạng lưới toàn cầu, được các tổ chức tài chính sử dụng để giao dịch tiền tệ; (ii). Các tổ chức tài chính sử dụng TTLNH để quản lý rủi ro tỷ giá và lãi suất; (iii).
Hầu hết các giao dịch trên TTLNH đều có giá trị lớn [8]. Jonathan Chiu, Jens Eisenschmidt, Cyril Monet (2020), nghiên cứu các mối quan hệ trên TTLNH thông qua mô hình cho vay trên TTLNH không có bảo đảm và chỉ ra rằng: các mối quan hệ là yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng tiếp cận thanh khoản trên TTLNH. Các NHTM bị mất cân đối dự trữ có nhiều khả năng vay vốn từ các ngân hàng mà họ có quan hệ và phải trả lãi suất thấp hơn so với các NHTM khác. Các ngân hàng nhỏ hơn và các ngân hàng có nhiều khoản nợ xấu có xu hướng hạn chế tiếp cận thị trường quốc tế và dựa nhiều hơn vào các mối quan hệ.
Các mối quan hệ cho phép các NHTM hạn chế rủi ro thanh khoản và tiết kiệm chi phí giao dịch trên TTLNH, mô hình nghiên cứu cũng chỉ ra CSTT ảnh hưởng tới cấu trúc mạng lưới cũng như hoạt động của TTLNH [9]. Masahiro Inoguchi (2013) nghiên cứu vai trò của TTLNH trong việc đo lường hiệu quả hoạt động của NHTM ở Đông Á. Tác giả cho rằng, hoạt động cho vay trên TTLNH đặc biệt quan trọng trong việc duy trì và củng cố thanh khoản các khu vực ngân hàng trong nước và đối với hệ thống tài chính ở Đông Á. Bài báo sử dụng kỹ thuật hồi quy bảng và kiểm tra xem các giao dịch liên ngân hàng của các NHTM có phản ứng với rủi ro và hiệu quả hoạt động của các NHTM ở các quốc gia Châu Á đó hay không.
Bài báo chỉ ra rằng, cải thiện luan an 11 TTLNH có thể đóng một vai trò trong việc thiết lập một hệ thống ngân hàng lành mạnh thông qua các hiệu ứng kỷ luật thị trường [12]. Hong và cộng sự (2014) cũng cho rằng, TTLNH góp phần đảm bảo thanh khoản cho các NHTM. Nghiên cứu cho thấy thanh khoản của NHTM có thể quyết định đến sự tồn tại của NHTM đó. Tác giả đã chỉ ra rằng, những rủi ro thanh khoản hệ thống có thể là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của NHTM trong giai đoạn 2009 - 2010 [10].
Thậm chí, theo Munteanua Ionica sự thiếu hụt thanh khoản của các NHTM là một phần nguyên nhân gây ra khủng hoảng toàn cầu [15]. Thị trường liên ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với thanh khoản của hệ thống NHTM (Valla và cộng sự, 2006) [16]. Nhờ có thanh khoản của thị trường này mà thanh khoản hệ thống NHTM được luân chuyển liên tục giữa các NHTM. Chính vì vậy, thanh khoản trên TTLNH tác động đến thanh khoản của từng NHTM trong hệ thống.
- Nhóm công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với thị trường liên ngân hàng Miguel Samiento, Jorge Cely, Carlos Leosn (2017), nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm để giám sát TTLNH. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu cấp vĩ mô từ các khoản vay tín chấp qua đêm song phương được thực hiện trên TTLNH, mô hình xác định những NHTM tham gia trả giá cao cho thanh khoản trên TTLNH một cách có hệ thống cho thấy những NHTM đó đang phải đối mặt với nhu cầu thanh khoản thường xuyên. Các NHTM này cũng cho thấy khả năng mất khả năng thanh toán cao hơn khi đo bằng chỉ số Z - score. Nghiên cứu ủng hộ sự tồn tại của kỷ luật thị trường dựa trên hệ thống giám sát của NHTW [14].
Theo nghiên cứu của Lucchetta Marcella (2007) [11] thì thanh khoản của NHTM tỷ lệ thuận với lãi suất trên TTLNH, tức là lãi suất trên TTLNH càng cao thì càng tạo động lực cho các NHTM nắm giữ nhiều thanh khoản hay có luan an 12 khả năng thanh khoản càng cao. Với hệ thống NHTM châu Âu, các NHTM cho vay nhiều trên TTLNH là những ngân hàng có thanh khoản tốt hơn. Đồng thời, vai trò của NHNN với thị trường này là hết sức quan trọng, với việc giảm mức lãi suất tái chiết khấu (một công cụ gia tăng cung tiền - M2) thì NHNN sẽ đóng vai trò giúp cho thanh khoản TTLNH không xuống quá thấp, và gây ảnh hưởng không tốt cho các NHTM. Đồng thời, nghiên cứu cũng quan sát thấy các NHTM chịu tác động khác nhau của TTLNH.
Các NHTM được đánh giá cao về mức độ uy tín thì có thể được hưởng lợi từ việc có thể huy động thêm các nguồn vốn dịch chuyển sang từ các NHTM được đánh giá thấp hơn (Freixas và cộng sự, 2011) [6]. Ngoài ra còn có một số bài báo theo dõi và đưa ra một số nhận định về thị trường tiền tệ, TTLNH Việt Nam như: trên tạp chí Asia Pulse (2010) cho rằng: NHNN Việt Nam cần có những hành động cụ thể để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của TTLNH [1]. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước - Nhóm công trình nghiên cứu QLNN đối với thị trường tài chính: Thị trường liên ngân hàng là một bộ phận của thị trường tiền tệ (TTTT), thị trường tài chính (TTTC). Do đó, QLNN đối với TTLNH cũng có những điểm tương đồng với QLNN đối với TTTT, TTTC.
Các nghiên cứu về nội dung quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán Nguyễn Thị Thanh Hiếu (2011) [12], Bùi Thị Thùy Nhi (2012) [23], Trần Minh Tuấn, Bùi Kim Thanh (2019) [63] đều cho rằng: QLNN cần được xem xét, nhìn nhận toàn diện, hệ thống trên cả ba mặt: quản lý theo chức năng: về hoạch định chính sách, về chức năng tổ chức, chỉ huy, giám sát; theo hoạt động nghiệp vụ của thị trường: phát hành, niêm yết, lưu ký, đăng ký, giao dịch, thanh luan an 13 toán bù trừ…; theo các yếu tố của TTCK: quản lý cung, cầu, giá cả và sự cạnh tranh trên thị trường. Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán Nguyễn Thị Thanh Hiếu (2011) [12], Bùi Thị Thùy Nhi (2012) [23], Trần Minh Tuấn, Bùi Kim Thanh (2019) [63] chỉ ra, các nhóm nhân tố khách quan như: thể chế quản lý kinh tế, xu hướng tự do hóa tài chính và liên kết mang tính toàn cầu của thị trường tài chính, các quy định của Ủy Ban Chứng khoán quốc tế, tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực chứng khoán; các nhân tố chủ quan như: đặc điểm và trình độ phát triển của TTCK, khung pháp lý trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK, năng lực nhận thức, trình độ quản lý và sự phối kết hợp của các cơ quan QLNN đối với TTCK. Các nghiên cứu về tiêu chí đánh giá QLNN đối với thị trường chứng khoán Nguyễn Thị Thanh Hiếu (2011) [12], Bùi Thị Thùy Nhi (2012), [23] xây dựng tiêu chí đánh giá về: mục tiêu quản lý TTCK, đánh giá tổ chức bộ máy quản lý TTCK, đánh giá phương thức quản lý, nội dung quản lý TTCK, tiêu chí điều hành và giám sát TTCK, đánh giá hoạt động hợp tác quốc tế, đánh giá các hoạt động hỗ trợ khác, năng lực của cơ quan quản lý TTCK, đánh giá kết quả đầu ra của quản lý TTCK. - Nhóm công trình nghiên cứu thị trường liên ngân hàng Các nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm của TTLNH: khái niệm về TTLNH được đề cập khá đầy đủ trong nhiều nghiên cứu: Đỗ Văn Độ (2012) [5], Vũ Thị Lợi (2003) [18], Nguyễn Thị Thành (2013) [55], …Các nghiên cứu đều cho rằng: (i) TTLNH là thị trường tiền tệ bán buôn, (ii) TTLNH giao dịch nguồn vốn ngắn hạn giữa các TCTD với nhau và với NHTW, (iii) TTLNH nhằm đáp ứng khả năng thanh khoản của các TCTD, (iv) TTLNH nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn của các TCTD.
Đặc điểm của TTLNH cũng luan an 14 được hệ thống trong nghiên cứu của: Đỗ Văn Độ (2012) [5], Vũ Thị Lợi (2003) [18], Nguyễn Thị Thành (2013) [55]….Các nghiên cứu đều cho thấy, TTLNH có những đặc điểm như: (i) là thị trường bán buôn, (ii) là thị trường có thời hạn rất ngắn, (iii) là thị trường cập nhật và nhạy cảm, (iv) là thị trường có độ tin cậy rất cao, (v) là thị trường mang tính liên kết toàn cầu, (vi) công cụ giao dịch trên thị trường có thời hạn ngắn, tính thanh khoản cao, (vii) đồng tiền giao dịch trên thị trường là nội tệ và ngoại tệ. Các nghiên cứu về các thành viên tham gia, công cụ giao dịch trên TTLNH Đỗ Văn Độ (2012) [5], Vũ Thị Lợi (2003) [18] đều thống nhất thành viên tham gia TTLNH bao gồm: (i) các NHTM, (ii) các tổ chức nhận tiền gửi khác, (iii) công ty môi giới và (iv) NHTW. Các công cụ giao dịch chủ yếu trên TTLNH là: (i) tín phiếu kho bạc, (ii) thương phiếu, (iii) chứng chỉ tiền gửi, (iv) hợp đồng mua lại (repo). Các nghiên cứu về hoạt động điều hành trên thị trường liên ngân hàng Về điều hành lãi suất: Tại hội thảo do Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Ngân hàng nhà nước tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Trí Hiếu (2017) [10], đề nghị NHNN Việt Nam nên xây dựng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản tương tự Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED).
Ngân hàng Nhà nước thiết lập lãi suất trung tâm cho TTLNH, từ đó làm cơ sở cho lãi suất huy động, cho vay hình thành từ cung - cầu thị trường. Cơ chế này đòi hỏi sự liên thông giữa các thị trường tài chính. Vì tại Việt Nam hiện nay, có 02 loại lãi suất: lãi suất liên ngân hàng (lãi suất thị trường 2) và lãi suất cho vay cá nhân, doanh nghiệp (lãi suất thị trường 1), hai loại lãi suất này không kết nối với nhau. Việt Nam không có lãi suất trung tâm để điều hành lãi suất thị trường.
Đoàn Phương Thảo (2011) [53] nghiên cứu về OMO, cho thấy hoạt động can thiệp của NHNN trên thị trường tiền tệ, thông qua việc mua bán giấy tờ có giá, tác động lên lượng tiền cung ứng, đồng thời tác động lên thanh khoản của hệ luan an 15 thống. Các nhân tố ảnh hưởng tới OMO như mục tiêu chính sách tiền tệ (tỷ lệ lạm phát kỳ vọng), nhu cầu thanh khoản của các tổ chức tín dụng .được nghiên cứu, cung cấp khuyến nghị chính sách có cơ sở cho NHNN Việt Nam.