Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh THCS tại các Trường PTDTBT. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh THCS tại các Trường PTDTBT huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh THCS tại các Trường PTDTBT huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp và hợp tác Nghiên cứu những kỹ năng cụ thể về nhóm kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp và hợp tác có các công trình khoa học đã công bố, như: [1]; [2]; [6]; [17]; [18]; [25]; [27]; [28]; [33]; [49]; [50]; [51]; [52];… Từ thời cổ đại đến cận đại, hiện đại những nhà triết học, giáo dục học, như: Xôcrat (469-390) TCN, Arixtôt (384-322) TCN, Cômenxki J.Ăngghen (1820-1895), … đã bàn về vấn đề năng lực thực hành, kỹ năng của cá nhân. Dựa trên tư tưởng, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, những nhà Tâm lý học Mác-xít đã đề cập tới vấn đề giao tiếp của học sinh ở những lứa tuổi khác nhau.
Trong tác phẩm, “Phạm trù giao tiếp và hoạt động trong tâm lý học sinh” của B.Lômov [6], đã đi sâu nghiên cứu tác động của giao tiếp đối với sự hình thành nhân cách, đồng thời xác định những đặc điểm trong giao tiếp của học sinh nói chung, học sinh THCS nói riêng. Để rèn luyện, nâng cao giao tiếp cho học sinh, L. Trong công trình khoa học về “Tầm quan trọng của những kỹ năng” tác giả Schulz đã bàn tới các kỹ năng cần thiết đối học sinh. B chỉ ra một số kỹ năng cần thiết đối với học sinh là kỹ năng giao tiếp và hợp tác, đàm phán, sáng tạo,.
B, sự hình thành và phát triển các kỹ năng cho học sinh cần tổ 7 chức tốt việc giáo dục thông qua lồng ghép các chương trình giáo dục, hoạt động ngoại khóa và tự rèn luyện của cá nhân [51, tr.H trong bài viết “Phát triển các kỹ năng của người học thông qua hoạt động nhóm” cho rằng, các thành viên nhóm cần được giáo dục đầy đủ kiến thức và các kỹ năng nhất định, nhất là kỹ năng giao tiếp và hợp tác[50]. Đi sâu bàn về vai trò của kỹ năng hợp tác trong học tập và các hình thức giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh, như kết quả của nghiên cứu Kaldırım, A. F được thực hiện đã chỉ rõ: hợp tác trong học tập có ảnh hưởng tích cực đến thành tích học tập của học sinh ở cấp học phổ thông [49]. Hoàng Thị Anh [2], với công trình nghiên cứu “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên” cho rằng, các trường sư phạm cần phát triển các nhóm kỹ năng như nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp, nhóm kỹ năng định vị và nhóm kỹ năng điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp.
Đi sâu bàn về hợp tác, kỹ năng hợp tác, Dương Thị Hồng Hiếu [25], cho rằng: Hợp tác trong học tập được đặc trưng bởi 5 yếu tố cơ bản: Sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau, tương tác được thúc đẩy, trách nhiệm cá nhân, nhiệm vụ và chất lượng giải quyết nhiệm vụ nhóm [25, tr. Trong khi đó, nghiên cứu đánh giá về vai trò kỹ năng giao tiếp và hợp tác trong dạy học, Nguyễn Bảo Hoàng Thanh, Trần Quỳnh [40] xác định rằng: “Việc hợp tác giúp tạo ra những thành công trong học tập, tăng cường khả năng tư duy phê phán, tăng cường thái độ tích cực với các môn học, bên cạnh đó, việc thường xuyên đánh giá năng lực hợp tác sẽ góp phần phát triển năng lực hợp tác của học sinh” [40]. Như vậy, những công trình khoa học đã bàn đến các kỹ năng (giao tiếp và hợp tác,…) cho học sinh. Tuy nhiên, có rất ít công trình khoa học nghiên cứu trực tiếp về kỹ năng giao tiếp và hợp tác của học sinh THCS.
Nghiên cứu về giáo dục kỹ năng giao tiếp và hợp tác, quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp và hợp tác trong nhà trường Nghiên cứu về giáo dục kỹ năng giao tiếp và hợp tác và rèn luyện kỹ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh, như: [3]; [4]; [5]; [10]; [12]; [20]; [26]; [41];… Trong đó, Nguyễn Thanh Bình [3], [4], đã đề cập sự cần thiết, 8 nội dung, hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh; chỉ rõ những hạn chế của học sinh THCS khi giao tiếp; đề xuất xây dựng chương trình tác động sư phạm nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp: Kỹ năng “Tự chủ cảm xúc hành vi”, kỹ năng “Chủ động điều khiển quá trình giao tiếp” cho học sinh thông qua hoạt động dạy học, trải nghiệm và hoạt động của Đoàn - Đội. Huỳnh Ngọc Huệ [26], tác giả đề xuất sáu biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và nâng cao kỹ năng giao tiếp của học sinh thông qua hoạt động nhóm. Nghiên cứu sâu về giáo dục kỹ năng giao tiếp và hợp tác và rèn luyện kỹ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh ở các địa bàn miền núi, dân tộc ít người, có một số công trình khoa học: [21]; [22]; [24]; [30]; [36]; [39]; [40]; [42]; [43]; [44]; [46];. Trong sách, tác giả Phù Thị Hằng cho rằng giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ của học sinh trường THPT dân tộc Tày và trường THPT dân tộc Nùng là phương tiện giao tiếp hàng ngày của các em.
Việc sử dụng thường xuyên phương tiện giao tiếp này ảnh hưởng tới quá trình sử dụng tiếng Việt của các học sinh trong những tình huống giao tiếp [24]. Ngô Giang Nam cũng đã phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến giao tiếp của học sinh miền núi; đồng thời, đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh vùng núi phía Bắc [36]. Hà Thị Thúy, Đặng Xuân Cương, Trần Văn Thế, Nguyễn Hằng Nga [43] cho cho rằng: Năng lực giao tiếp và hợp tác là một nhóm năng lực quan trọng được xem là một trong những giải pháp chủ yếu để con người chung sống, phát triển. Trong bài viết, nhóm tác giả đưa ra các nhận định của giáo viên THCS về hoạt động giáo dục cũng như thực tiễn triển khai dạy học có hướng đến phát triển kỹ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh thông qua môn Khoa học tự nhiên [43, tr.
Nguyễn Chiến Thắng, Nguyễn Thị Hoàng Anh [42] cũng đã bàn đến hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh là thông qua tổ chức hoạt động nhóm khi dạy học Hàm số bậc nhất và Hàm số bậc hai ở lớp 10 [42, tr. 9 Nghiên cứu sâu về quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh, có: [29]; [32]; [35];…Trong đó, Nông Thị Hường [29], đã nghiên cứu có chiều sâu về những khó khăn của học sinh vùng dân tộc thiểu số với hoạt động giao tiếp bằng tiếng Kinh trong các nhà trường; đề xuất các biện pháp thiết thực, sát với tình hình thực tế là: Xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh; Tích hợp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh thông qua các môn học; thông qua sinh hoạt lớp; Tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Việt cho học sinh; Phát triển giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh dân tộc thiểu số ở gia đình và cộng đồng. Trần Kiểm [32], luận chứng các khâu của công tác quản lý: Quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp được thể hiện nhất quán trong các khâu: xây dựng kế hoạch, xác định nhiệm vụ, nội dung, hình thức tổ chức và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng giao tiếp. Tác giả Hoàng Trà My [35], đã bàn sâu về thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học thành phố Tuyên Quang theo định hướng chương trình GDPT 2018.
Tác giả đã nhận định: ``Vấn đề quản lý hoạt động dạy kỹ năng giao tiếp cho học sinh đã được lãnh đạo nhà trường dẫn dắt đạt được một số thành công.'' Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế” [35, tr. Như vậy, với những công trình khoa học trên đây đã công bố và có giá trị nhất định. Tuy nhiên, chư có những công trình nghiên cứu sâu về quản lý hoạt động kỹ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh THCS tại Trường PTDTBT. Giáo dục kỹ năng giao tiếp và hợp tác cho học sinh THCS tại Trường PTDTBT 1.
Khái niệm kỹ năng giao tiếp và hợp tác 1. Khái niệm kỹ năng Bàn về khái niệm kỹ năng, có nhiều cách tiếp cận đưa ra định nghĩa, như: trong từ điển Tiếng Việt, kỹ năng là “năng lực làm việc khéo léo”. Ông 10 Đặng Thành Hưng cho rằng, kỹ năng dựa trên kinh nghiệm sống, khả năng hiểu biết và hành động trong công việc của mỗi cá nhân, động lực, sinh học, tâm lý và các điều kiện xã hội khác cách linh hoạt. Đạt được kết quả theo tiêu chuẩn và mục tiêu đã đặt ra hoặc giải quyết vấn đề để đạt được mức độ thành công theo tiêu chuẩn và quy định [27, tr 25-48].
Theo đó, kỹ năng là những khả năng, kiến thức và năng lực mà một người sử dụng để thực hiện một công việc, giải quyết một vấn đề nào đó. Khái niệm kỹ năng giao tiếp Tương tự như kỹ năng, bàn về giao tiếp cũng có nhiều cách định nghĩa.Mác hiểu “giao tiếp như là một quá trình hợp tác, thống nhất và tác động quan lại giữ người với người” [45, tr. Nguyễn Văn Đông mô tả kỹ năng giao tiếp là “khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế về quá trình giao tiếp, các yếu tố liên quan và tác động đến quá trình này cũng như các phương tiện giao tiếp bằng lời nói, phi ngôn ngữ và kỹ thuật mục tiêu một cách hiệu quả và hài hòa. Vì vậy, kỹ năng giao tiếp bao gồm các yếu tố quan trọng như kiến thức về chủ đề giao tiếp, quá trình giao tiếp sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và các phương tiện kỹ thuật khác.