CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC NĂNG LỰC THÍCH ỨNG VỚI CUỘC SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Sự phát triển nhanh chóng của xã hội đòi hỏi con người cần phải có các kỹ năng thích ứng với sự thay đổi và phát triển này. Trong trường học giáo dục, quản lý giáo dục năng lực thích ứng với cuộc sống cho học sinh là một trong những nhiệm vụ quan trọng để giúp học sinh phát triển các kỹ năng thích ứng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên, việc quản lý giáo dục năng lực thích ứng cho học sinh các trường trung học cơ sở đang gặp phải nhiều thách thức và khó khăn.
Các trường thường phải đối mặt với sự thiếu hụt nguồn lực, kinh phí, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên chuyên môn và nhà quản lý giáo dục. Ngoài ra, còn có sự chưa đầy đủ và khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu và mong muốn của học sinh. Do đó, việc nghiên cứu về quản lý giáo dục năng lực thích ứng với cuộc sống cho học sinh các trường trung học cơ sở là cần thiết để cải thiện hiệu quả của giáo dục và phát triển các kỹ năng thích ứng cần thiết cho học sinh. Các nghiên cứu về đề tài này có thể tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các biện pháp quản lý giáo dục năng lực thích ứng, nghiên cứu về nhu cầu và mong muốn của học sinh, và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý giáo dục năng lực thích ứng này.
Một số công trình nghiên cứu về năng lực thích ứng với cuộc sống cho học sinh THCS: "Mô hình đào tạo năng lực thích ứng cho sinh viên đại học" của Nguyễn Thị Huyền Trang (2019): Nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển mô hình đào tạo năng lực thích ứng cho sinh viên đại học để giúp họ đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. 6 "Năng lực thích ứng của sinh viên đại học trong thời đại 4.0" của Nguyễn Quang Minh (2019): Nghiên cứu này nhằm đánh giá năng lực thích ứng của sinh viên đại học với môi trường làm việc trong thời đại 4. "Nghiên cứu về năng lực thích ứng với cuộc sống của người lao động trẻ tại Hà Nội" của Nguyễn Thị Hương Giang (2020): Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá năng lực thích ứng với cuộc sống của người lao động trẻ tại Hà Nội và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng của họ. "Xây dựng chương trình đào tạo kỹ năng thích ứng cho giáo viên tiểu học" của Lê Thị Thanh (2021): Nghiên cứu này nhằm xây dựng chương trình đào tạo kỹ năng thích ứng cho giáo viên tiểu học nhằm giúp họ đáp ứng được yêu cầu của giáo dục trong thời đại mới.
"Mô hình đào tạo năng lực thích ứng cho doanh nghiệp tại Việt Nam" của Lê Thị Thu Hà (2021): Nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển mô hình đào tạo năng lực thích ứng cho doanh nghiệp tại Việt Nam nhằm giúp họ cải thiện hiệu quả kinh doanh và thích ứng với sự thay đổi của thị trường. "Nghiên cứu khảo sát năng lực thích ứng với cuộc sống của sinh viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân" của Nguyễn Thị Lương (2021): Nghiên cứu này nhằm khảo sát năng lực thích ứng với cuộc sống của sinh viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng của họ và đề xuất giải pháp để nâng cao năng lực thích ứng của sinh viên. "Nghiên cứu phát triển năng lực thích ứng cho người lao động chuyển đổi nghề nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh" của Nguyễn Thị Hải Yến (2022): Nghiên cứu này nhằm đề xuất giải pháp phát triển năng lực thích ứng cho người lao động chuyển đổi nghề nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh, giúp họ thích ứng được với sự thay đổi của thị trường lao động. Các nghiên cứu trên cho thấy tầm quan trọng của năng lực thích ứng với cuộc sống và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực thích ứng của 7 các đối tượng khác nhau trong xã hội, từ sinh viên, giáo viên, người lao động cho đến doanh nghiệp.
Tóm lại, cho đến nay, năng lực thích ứng với cuộc sống vẫn là một trong những vấn đề đang mới mẻ trong lĩnh vực khoa học và hệ thống giáo dục tại Việt Nam. Nghiên cứu về năng lực thích ứng với cuộc sống chỉ mới được thực hiện trong một số dự án và đề tài có số lượng hạn chế. Những nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào phát triển năng lực thích ứng nghề nghiệp, hoạt động học tập thông qua các chương trình và biện pháp thực nghiệm tác động, trong khi nghiên cứu về giáo dục năng lực thích ứng với cuộc sống lại rất ít. Do đó, năng lực thích ứng với cuộc sống vẫn là một lĩnh vực tiềm năng cần được khai thác và nghiên cứu nhiều hơn.
Luận văn "Quản lý giáo dục năng lực thích ứng với cuộc sống cho học sinh Trung học cơ sở huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc" tiếp nối và phát triển từ những kết quả của nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước. Vấn đề luận văn quan tâm không chỉ là giáo dục năng lực thích ứng với cuộc sống cho học sinh và cần thiết cho học sinh trường THCS huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, mà còn chú trọng đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục năng lực thích ứng với cuộc sống theo hướng tích hợp vào các môn học văn hóa và phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội như là một thiết chế thống nhất với vai trò chủ đạo của Nhà trường đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục. Lí luận về năng lực thích ứng với cuộc sống cho học sinh THCS 1. Khái niệm năng lực thích ứng, năng lực thích ứng với cuộc sống.
Năng lực “là thuộc tính cá nhân thể hiện ở tổ hợp các hành động vật chất và tinh thần tương ứng với một dạng hoạt động nhất định dựa trên sự huy động các kiến thức, kĩ năng, thái độ, giá trị có liên quan đảm bảo thực hiện thành công hoạt động ấy”. 8 Thích ứng là một khái niệm phổ biến được sử dụng cả trong lĩnh vực khoa học và cuộc sống hàng ngày, đồng nghĩa với khả năng thích nghi. Trong từ điển Tiếng Việt, thích ứng hoặc thích nghi có ý nghĩa là thay đổi dần dần hoặc thích ứng để phù hợp với một môi trường hoặc tình huống mới. Năng lực thích ứng được biểu hiện qua các điểm sau: Học sinh chủ động tham gia vào hoạt động nhóm để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống; Họ lựa chọn hình thức làm việc nhóm phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ học tập và đánh giá khả năng của mình trong các tình huống và môi trường mới; Họ chia sẻ và học hỏi từ các thành viên khác và biết cách ứng xử trong các tình huống và điều kiện mới.
(Đỗ Thị Phương Thảo, Vũ Diệu Hương, Vũ Thị Lê, 2016) Năng lực thích ứng với cuộc sống là khả năng của một cá nhân hoặc một tổ chức để thích nghi và đáp ứng được với những tình huống khác nhau trong cuộc sống, đặc biệt là trong các tình huống khó khăn và bất ngờ. Năng lực này đòi hỏi sự linh hoạt, sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề hiệu quả, cũng như kỹ năng quản lý stress, tâm lý và giao tiếp. Năng lực thích ứng với cuộc sống được xem là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển cá nhân, tạo ra sự thành công và hạnh phúc trong cuộc sống, và là nền tảng cho sự thành công trong công việc và mối quan hệ xã hội. Trong giáo dục, việc phát triển năng lực thích ứng với cuộc sống cho học sinh được coi là một mục tiêu quan trọng, giúp họ trở thành những người tự tin, linh hoạt và thành công trong tương lai.
Đối với HS THCS, hoạt động chủ đạo ở nhà trường là tham gia các hoạt động giáo dục để lĩnh hội tri thức, rèn luyện phẩm chất, kĩ năng. năng lực thích ứng của học sinh được nảy sinh chủ yếu trong các hoạt động giáo dục và các hoạt động đoàn thể, vui chơi, điều kiện hoàn cảnh khác nhau. Vì vậy, năng lực thích ứng một mặt dựa trên cấu trúc của thích ứng và cấu trúc của kĩ năng, một mặt dựa trên những hoạt động đoàn thể, vui chơi cùng nhau của HS ở trường THCS, gồm 3 nội dung có quan hệ chặt chẽ với nhau: 9 Kiến thức Kĩ năng Thái độ Về nhận thức/kiến thức: là quá trình cảm nhận và nhận thức lẫn nhau giữa các cá nhân khi cùng nhau tham gia các hoạt động, là sự thiết lập các mối quan hệ trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau. Quá trình cảm nhận được khắc họa bởi sự hiện diện của các ngôn từ trong giao tiếp, các hành vi ứng xử hướng tới sự phối hợp hành động, hướng tới việc giải quyết các vấn đề của nhiệm vụ, mỗi hoạt động thể hiện ở việc thảo luận và đưa ra cách giải quyết, lựa chọn phương án giải quyết nhiệm vụ, cách giải quyết nhiệm vụ cá nhân hướng tới mục tiêu của hoạt động và thái độ tích cực đối với kết quả thực hiện kiến thức cơ bản về thích ứng, về các biểu hiện của sự thích ứng, giá trị của thích ứng, cách thức thích ứng và những tri thức cần thiết cho sự hợp tác.
Tri thức về các hoạt động hay nhiệm vụ được giao và cách phối hợp với người khác để thực hiện hoạt động hay nhiệm vụ đó. Tri thức về năng lực thích ứng của học sinh được biểu hiện ở hệ thống những tri thức về thích ứng cuộc sống. Thông qua hoạt động tích cực của mình, điều khiển, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh biến đổi của xã hội, quy trình hợp tác, yêu cầu đối với hợp tác, cách thức để hợp tác có hiệu quả trong HĐTN. Ngoài ra, tri thức về hợp tác còn bao gồm những tri thức về các mối quan hệ hợp tác đảm bảo thành công cho hoạt động hợp tác.
Hệ thống tri thức về hoạt động hợp tác là cơ sở giúp HS thực hiện có hiệu quả sự thích ghi (A. Về hành động/kỹ năng: A. Siders đã đưa ra một trong những tiêu chí để đánh giá năng lực thích ứng đó là kỹ năng thích nghi. Đối với HS, kỹ năng 10 thích ứng, thích ghi bao gồm những hành động phối hợp giữa các cá nhân trong tập thể, trong đó có sự trao đổi không chỉ là kiến thức, ý tưởng mà còn cả giá trị và suy nghĩ.