CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TOÁN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ CHỦ VÀ TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu nước ngoài Nhìn chung, có nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài quan tâm đến vấn đề quản lý giáo dục nói chung và quản lý dạy học môn toán theo hướng phát triển năng lực tự chủ và tự học của học sinh. - Đối với vấn đề quản lý dạy học: Thực tiễn về quản lý các hoạt động dạy học luôn tồn tại song song và vô cùng sôi động.
Từ những năm 50 của thế kỉ XX, trong hàng loạt công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô cũ, đã xuất hiện các đề tài về các khía cạnh khác nhau của quản lí giáo dục. Năm 1956, lần đầu tiên xuất hiện tác phẩm “Quản lí trường học” của tác giả A.PôPốp, một nhà sư phạm và quản lí giáo dục Liên Xô cũ. Tác phẩm này là cả một tập hợp khá hoàn chỉnh các chỉ dẫn cho hoạt động thực tiễn của những người làm công tác quản lí giáo dục, đặc biệt là quản lí trường học, trong đó có quản lí hoạt động dạy học. Trong quá trình phát triển giáo dục của Xô Viết cũ đã có rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục, họ đã biên soạn ra nhiều sách và tài liệu vừa có tính khoa học và vừa có tính thực tiễn về công tác quản lý quá trình sư phạm chủ yếu diễn ra trong các nhà trường.
Đặc biệt nhất là M.I Kôndakốp, một nhà lý luận và hoạt động thực tiễn xuất sắc của Liên Xô cũ, ông đã rất dày công nghiên cứu những vấn đề về Quản lý giáo dục. Năm 1987, Viện Quản lí và Kinh tế giáo dục thuộc Viện Hàn lâm sư phạm (Liên Xô cũ) đã tổng kết những thành tựu nghiên cứu về quản lí trường học qua nhiều năm, trình bày những quan điểm mới nhất về quản lí giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng của các học giả Xô Viết cũ tính tới thời điểm đó. Campbell đã cho ra đời công trình đầu tiên nghiên cứu khá hoàn 7 chỉnh các vấn đề quản lý giáo dục dựa trên các học thuyết chung, đặc biệt là thuyết hành vi (quan hệ con người) trong quản lý. Vào những năm cuối của thế kỉ XX, các sách báo về QLGD đã được xuất hiện rất nhiều điển hình là một số công trình như: Hành vi tổ chức giáo dục của Robert J.
Owens (1995); Quản lý giáo dục - Lý thuyết, nghiên cứu và thực tiễn đã đề cập những quan điểm mới về QLGD nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng. - Đối với năng lực tự chủ tự học: ở thế kỉ XVIII-XIX, các nhà giáo dục lỗi lạc như J.Usinxki (1824-1870) đã đi sâu nghiên cứu về sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học trong dạy học. Ông chia thành 2 nhóm để xác định nhóm yếu tố nào sẽ chịu tác động mạnh từ môi trường học tập. Tác giả Taylor (1995)] trong ấn phẩm "Self- directed Learning: Revisiting an idea most appropriare for middle school students" cũng đã nghiên cứu về vấn đề tự học của học sinh.
Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, giáo dục cũng đang đứng trước những xu thế mới và những thách thức mới và có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Về quản lý dạy học, đã có những công trình nghiên cứu về chân dung người cán bộ quản lý nhà trường trong hoạt động dạy học, hoạt động quản lý giáo dục đã đạt được những thành tựu nhất định như: Có thể kể đến tác giả Nguyễn Văn Hà với đề tài “Quản lý HĐDH ở trường THPT Na Dương, tỉnh Lạng Sơn”; tác giả Vũ Thanh Lam với đề tài “Quản lý HĐDH ở trường THPT Hồng Quang, thành phố Hải Dương trong bối cảnh hiện nay”; tác giả Dương Trọng Chỉnh với đề tài “Biện pháp quản lý HĐDH ở các trường THPT có HS dân tộc thiểu số tại huyện CưM’gar, tỉnh Dăk Lăk”; luận văn thạc sỹ “Vận dụng lý thuyết quản lý sự thay đổi trong đổi mới phương pháp dạy học ở 8 trường THPT Thụy Hương, Hải Phòng” của tác giả Trịnh Văn Kiên , luận văn thạc sỹ “Quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận quản lý sự thay đổi ở trường THPT Tuần Giáo, tỉnh Điên Biên” của tác giả Hoàng Xuân Bình. Đối với nghiên cứu về năng lực tự học và tự chủ, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [37] cũng đã đưa ra quan niệm về năng lực tự học trong ấn phẩm "Học và dạy cách học" năm 2004 và "Học như thế nào cho tốt" năm 2009. Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, cần giáo dục cho học sinh khả năng định hướng trong môi trường xung quanh, biết hoạt động một cách linh hoạt, sáng tạo, biết tự mình nâng cao vốn học vấn để phát triển bản thân một cách tốt nhất, phải bắt buộc người học suy nghĩ, tìm tòi trong khi dạy học.
Những năm gần đây, khái niệm “học tập tự chủ” (self- learning) càng được nhắc đến nhiều hơn. Nhất là trong thời đại cộng nghệ đang phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi người học cần phải có tinh thần tự chủ trong vấn đề học tập để nâng cao, phát triển bản thân hội nhập thế giới. Nhiều nhà giáo dục đã nêu lên sự cấp thiết phải khéo léo tổ chức việc phát triển kỹ năng học tập tự chủ cho sinh viên. Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này của một số tác giả: Trần Thị Minh Hằng (2011); Vũ Đình Bắc (2017); Đinh Thị Hồng Thu (2017); Phan Ngọc Lệ (2019); Nguyễn Thị Hằng Nga, Nguyễn Thị Hợp, Nguyễn Ngọc Toàn (2017), Ngô Phương Anh (2017), Nguyễn Thị Hà (2016),.F (1978) [21] đề cập đến việc nâng cao kỹ năng tự học cho giờ lên lớp và xem đó là cách tốt nhất để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập.
Kết quả, sau khóa học, các sinh viên này đạt kết quả cao hơn hẳn so với các sinh viên không được đào tạo kỹ năng tự học. Trên tạp chí khoa học ngôn ngữ và văn hóa, nhóm tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga, Nguyễn Thị Hợp, Nguyễn Ngọc Toàn năm 2017 [28] cũng đã có bài nghiên cứu tăng cường động lực 9 học tập của sinh viên, khi tích hợp hai phương pháp học tăng cường ý thức và sử dụng tài liệu thực tế, có tên tích hợp là Cram. Kết quả của nghiên cứu là Cram đã tạo sự thay đổi thói quen làm việc và cảm xúc của người học: từ thái độ phụ thuộc chuyển sang chủ động, từ người hưởng thụ kết quả thành người tọa kết quả, từ cảm giác nghĩa vụ sang cảm xúc tự do, chủ động. Tác giả Ngô Phương Anh cũng có bài viết trên tạp chí Giáo dục “các phương pháp nâng cao năng lực tự học cho người học ngoại ngữ” (2017) [1], bài viết đã đi sâu tìm hiểu các nghiên cứu của các học giả đến từ các nước phương Tây và phương Đông trong đó có Việt Nam về đề tài nâng cao năng lực tự chủ của người học.
Các khái niệm cơ bản 1. Hoạt động dạy học môn Toán 1. Khái niệm dạy học Có nhiều khái niệm về hoạt động dạy học, dưới đây sẽ nêu dẫn một số khái niệm cụ thể. Hoạt động dạy học là hệ thống những hành động phối hợp, tương tác giữa giáo viên và học sinh, trong đó, dưới tác động chủ đạo của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, chủ động lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất của nhân cách.
Theo quan điểm lý thuyết về dạy học hiện đại, hoạt động dạy học bao gồm hoạt động của thầy và trò. Nhà tâm lý học A. Mentriskaia đưa ra quan điểm rằng hai hoạt động của thầy và trò là hai mặt của một hoạt động [2]. Từ việc phân tích các khái niệm nêu trên, trong nghiên cứu này, theo quan điểm của tác giả thì khái niệm hoạt động dạy học được hiểu như sau: "Hoạt động dạy học là hoạt động hướng vào đầu ra, nhấn mạnh người học cần đạt được mức năng lực như thế nào sau khi kết thúc một quá trình dạy và 10 học.
Hay nói cách khác, chất lượng đầu ra đóng vai trò quan trọng nhất đối với hoạt động dạy học. Khái niệm dạy học môn Toán Toán học là môn khoa học đề cập đến logic của con số, cấu trúc, không gian và các phép biến đổi. Toán học có trong mọi thứ xung quanh chúng ta. Trong tất cả mọi thứ chúng ta làm.
Đó là thước đo cho mọi thứ trong cuộc sống hàng ngày. Theo quan điểm của tác giả thì khái niệm hoạt động dạy học môn toán được hiểu như sau: "Hoạt động dạy học môn Toán là hoạt động hướng vào đầu ra, nhấn mạnh người học cần đạt được mức năng lực như thế nào sau khi kết thúc một quá trình dạy và học môn Toán. Hay nói cách khác, chất lượng đầu ra đóng vai trò quan trọng nhất đối với hoạt động dạy học môn Toán. Dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh trung học cơ sở 1.
Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực có nguồn gốc tiếng la tinh “competentia”, có nghĩa là gặp gỡ. Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau. Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức. Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội …và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt [4].
Theo Xavie Rogiers: “Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao” [42, tr56] Theo Thái Duy Tuyên: “Năng lực là những đặc điểm tâm lý của nhân cách, là điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạt động nhất 11 định. Năng lực có liên quan với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo. Năng lực thể hiện ở tốc độ, chiều sâu, tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng của kết quả hoạt động, ở tính sáng tạo, tính độc đáo của phương pháp hoạt động” [40, tr 5].