Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học tiếng dân tộc Thái ở Trung tâm giáo dục thường xuyên theo hướng phát triển năng lực giao tiếp. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng dân tộc Thái cho cán bộ, công chức, viên chức tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Sơn La theo hướng phát triển năng lực giao tiếp. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng dân tộc Thái cho cán bộ, công chức, viên chức tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Sơn La theo hướng phát triển năng lực giao tiếp. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG DÂN TỘC THÁI TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP 1.
Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu về tiếng dân tộc Thái và dạy học tiếng dân tộc Thái Giáo dục ngôn ngữ và bảo tồn tiếng dân tộc Thái có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Ngôn ngữ mỗi dân tộc có tính đặc thù về hệ chữ, âm, vần và sắc thái phản ánh văn hoá giao tiếp truyền thống của dân tộc. Dạy tiếng, dạy chữ dân tộc là con đường bảo tồn có mục đích, kế hoạch và mang lại hiệu quả và sức ảnh hưởng lớn.
[34], [13] Nguyễn Đức Tồn (2016) trong tác phẩm “Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam” đã khẳng định việc học ngôn ngữ các dân tộc thiểu số giúp người học hiểu về văn hoá, con người dân tộc đó. Ở Việt Nam, việc tìm hiểu và tiếp thu tiếng nói hay tiếng nói và chữ viết (đối với dân tộc có cả tiếng nói và chữ viết) rất cần quan tâm đến đặc điểm địa phương, vùng miền do yếu tố phong tục, tập quán và cần quan tâm vấn đề phương ngữ. Người học cần biết về bối cảnh, thực tiễn đời sống văn hoá của đồng bào dân tộc. Một con đường để bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá các dân tộc, ngôn ngữ các dân tộc chính là đẩy mạnh giáo dục ngôn ngữ dân tộc, trong đó có dạy học tiếng dân tộc thiểu số cho các thế hệ.
Đảng và Nhà nước có chính sách bảo tồn và dạy tiếng dân tộc nhằm hỗ trợ trong công tác chuyên môn, tuyên truyền, vận động thuyết phục đồng bào DTTS trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. [37] Trong đó những nghiên cứu về tiếng Thái đã khẳng định: Dân tộc Thái là 1 trong 54 dân tộc có mặt, sinh sống trên đất nước Việt Nam từ hơn 1000 năm trước trong các cuộc thiên di trong lịch sử. Trải qua hàng ngàn năm sinh sống và lao động sản xuất, người dân tộc Thái đã tạo dựng nên những nét đặc sắc về bản sắc văn hoá độc đáo kiến trúc nhà ở, trang phục thổ cẩm, văn hoá ẩm thực, 6 phong tục tập quán riêng biệt, ngôn ngữ chữ viết… và truyền thống lao động sản xuất vật chất đã làm nên một nền văn hoá cho dân tộc Việt Nam thêm phong phú và đa dạng hơn. [18], [17], [14] Tác giả Trần Trí Dõi, Nguyễn Văn Hoà (2010) trong cuốn “Nhập môn tiếng Thái ở Việt Nam: tiếng Thái đen vùng Tây Bắc” đã khẳng định: Ở Việt Nam dân tộc Thái là một dân tộc thiểu số có tiếng nói và sớm có chữ viết riêng, từ xưa đã có 8 bộ chữ cổ.
Chữ Thái Đen cổ vùng Tây Bắc làm bộ chữ chung gọi là chữ Thái Việt Nam. Tập giáo trình này, được soạn theo bộ chữ Thái Việt Nam, cơ sở là bộ chữ Thái Đen cổ, học chữ để học tiếng. Bộ chữ có 24 cặp phụ âm, 19 nguyên âm, 2 dấu thanh và 4 từ ghi nhớ. Tác giả cũng đưa ra lời khuyên cho người học tiếng Thái cần hiểu nguyên tắc ngữ âm, hệ chữ và văn hoá ngôn ngữ của người Thái [17].
Tác giả Trần Văn Thông (2017) trong bài “Ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam” đã viết: Người Thái nói các thứ tiếng hệ ngôn ngữ Thái - Ka đai; Người Thái là một trong số rất ít các dân tộc thiểu số ở nước ta có chữ viết từ lâu đời [33]. Tuy chưa xác định được cụ thể thời điểm xuất hiện của chữ Thái, nhưng ngàn năm nay, các nhóm Thái ở nước ta cũng như cộng đồng người Thái sống ở nước ngoài đã sử dụng con chữ riêng của mình cho đến ngày nay. Trước những năm 1963, chữ Thái được nhân dân các vùng người Thái cư trú truyền dạy cho con cháu theo con đường cha truyền con nối, không có trường lớp, không có sách giảng dạy, không có tài liệu hướng dẫn. Chính vì những đặc điểm riêng đó, sau những năm 1963 thì tiếng dân tộc Thái mới được nghiên cứu, đưa vào giảng dạy theo chính sách dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc [34].
Do đó, những nghiên cứu về dạy và học tiếng Thái chưa thật nhiều. Năm 2006 Hội đồng khoa học tỉnh Sơn La đã nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học "Thiết kế phần mềm Font chữ Thái trên vi tính" do trường CĐSP Sơn La chủ trì (Thạc sĩ Lò Mai Cương chủ nhiệm đề tài). Bộ Font chữ Thái được thiết kế trên nền chữ Thái cổ của dân tộc Thái đen vùng Tây Bắc. Do vậy bộ Font chữ Thái đã được sử dụng trong việc biên soạn tài liệu giảng dạy tiếng, chữ Thái; được các nhà nghiên cứu sử dụng để biên soạn, sáng tác, sưu tầm, bảo tồn các tác phẩm văn hóa Thái; Bộ Font chữ Thái được cơ quan thường trú đài tiếng nói Việt Nam khu 7 vực Tây Bắc, đài phát thanh truyền hình tỉnh sử dụng để biên tập biên dịch các bài phát thanh tiếng dân tộc Thái.
Bộ Font chữ Thái đã được nhóm kỹ thuật Unicode cấp 73 ký tự đưa vào mã Quốc tế, Trung tâm tin học Huế đã sử dụng thiết kế trang web chữ Thái Việt Nam được nhiều người khai thác sử dụng. Đến nay những tỉnh có người Thái, cũng như cộng đồng người Thái sống ở nước ngoài đã và đang sử dụng bộ Font chữ Thái trong việc bảo tồn giữ gìn văn hóa Thái. Cuộc hội thảo tháng 5/2008 đã thống nhất được bộ chữ Thái Việt Nam do 7 tỉnh có dân tộc Thái (Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hoà Bình, Yên Bái, Thanh Hoá, Nghệ An) biểu quyết nhất trí lấy bộ chữ Thái đen vùng Tây Bắc làm chuẩn và bổ sung thêm 6 bộ tô (của Thái trắng, Thái Nghệ An, Thanh Hoá), hai dấu thanh điệu và đặt tên là chữ Thái Việt Nam. Thống nhất soạn thảo tài liệu giảng dạy chữ Thái cho phù hợp với địa phương.
Các nghiên cứu về tiếng dân tộc Thái khẳng định: Học tiếng và chữ dân tộc Thái là một yêu cầu quan trọng để cán bộ công chức, viên chức tiếp thu những vấn đề cơ bản, trọng tâm về tiếng nói chữ viết của dân tộc Thái. Mục đích giúp học viên tìm hiểu các phong tục, tập quán, các lễ hội và các nghề truyền thống của dân tộc Thái; được giao lưu văn nghệ, nhảy sạp, cồng chiêng, khắc luống. Rèn luyện kỹ năng nói, kỹ năng nghe và hiểu tiếng dân tộc Thái. Từ đó hướng cho học viên phương pháp tự học, tự đánh giá kết quả học tập, chủ động trong rèn luyện kỹ năng và tiếp cận kiến thức thông qua các hoạt động học tập tích cực: sử dụng những kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân vào luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.
Một số lưu ý đưa ra là riêng tiếng Thái, học viên ngoài việc nắm một số kiến thức cơ bản hệ thống từ vựng, ngữ pháp, âm, vần, thanh điệu còn hiểu về văn hoá truyền thống và phong tục, tập quán của dân tộc đó. Thực tế người học sử dụng được ngôn ngữ dân tộc để tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Khắc phục được sự bất đồng ngôn ngữ trong giao tiếp và công tác, đồng thời nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy những giá trị 8 văn hoá truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần xây dựng tinh thần đại đoàn kết dân tộc. [15], [14], [18] Hoạt động day học tiếng Thái là dạy học ngôn ngữ dân tộc thiểu số nên phải chú trọng đến 3 yêu cầu là phải phù hợp với đối tượng, đạt mục đích giao tiếp và tích hợp giữa các kỹ năng: Nghe, Nói.
Đọc và Viết với nhau. - Phù hợp với đối tượng: Đối tượng tiếp nhận ngôn ngữ là CB, CC, VC ở các vùng đồng bào dân tộc Thái sinh sống, chưa biết tiếng nói, chữ viết của đồng bào, có nhu cầu học một chương trình ngắn hạn về tiếng dân tộc như một ngôn ngữ thứ hai. - Giao tiếp: Để hình thành và phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng dân tộc Thái một cách nhanh chóng và vững chắc, việc dạy tiếng dân tộc Thái cho đối tượng kể trên vận dụng quan điểm dạy học theo định hướng giao tiếp, đặc biệt chú trọng hai kỹ năng nghe và nói là những kỹ năng giao tiếp được sử dụng nhiều nhất trong quan hệ với đồng bào; khuyến khích HV kết hợp việc học trên lớp với thực hành giao tiếp trong công tác và đời sống hàng ngày. Để việc học tiếng Thái giúp cho người học là giáo viên phải giao tiếp được với nhân dân nơi đang cu trú, công tác thì việc dạy tiếng dân tộc Thái cần dựa trên ngữ liệu phản ánh cuộc sống lao động, sinh hoạt văn hóa, phong tục tập quán,… của địa phương, qua đó trang bị cho người học những hiểu biết về tâm lý, tình cảm, văn hóa truyền thống,… của đồng bào dân tộc Thái.
Bên cạnh đó cũng cần có một số văn bản thường thức về khoa học, pháp luật, chính trị để người học có vốn từ ngữ cần thiết, vận dụng trong công tác tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vận động nếp sống mới và phổ biến khoa học. [15], [18] Hoạt động học: Hoạt động học tiếng dân tộc Thái cũng giống như học một thứ tiếng khác ngoài ngôn ngữ mẹ đẻ, song cần chú ý về kỹ năng nghe, đọc, hiểu, viết, nói. Muốn vậy, người học cần được trang bị kiến thức về ngữ âm, vần, nghe nói, viết theo các trình độ nhất định.Để dạy học tiếng dân tộc Thái có hiệu quả, phải quan tâm kết hợp chặt chẽ giữa việc dạy ngôn ngữ với trang bị vốn hiểu biết cơ bản về văn hóa, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc Thái.