CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Tiếng Anh hiện đang là một trong những ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất trên thế giới. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức ở 75 quốc gia và được khoảng 400 triệu người trên toàn thế giới nói như ngôn ngữ thứ nhất. Tính đến năm 2020, khoảng gần 1,35 tỷ người trên thế giới sử dụng tiếng Anh.
Bên cạnh đó, tiếng Anh hiện đang là ngôn ngữ chính của Internet, ước tính có khoảng 565 triệu người sử dụng Internet mỗi ngày và khoảng 52% các trang web được truy cập nhiều nhất trên thế giới được hiển thị bằng tiếng Anh. Hiểu và sử dụng được tiếng Anh đã trở thành yêu cầu bắt buộc trong thời đại toàn cầu hóa. Trong ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á), tiếng Anh có chức năng như một ngôn ngữ chung của châu Á và quốc tế. Điều đó có nghĩa là, nó được sử dụng như một phương tiện giao tiếp giữa các nhóm người không nói cùng một ngôn ngữ đầu tiên.
Theo McArthur (1998), kể từ khi được thành lập vào năm 1967, ASEAN đã sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ làm việc và hiện cũng sử dụng tiếng Anh trong các cuộc thảo luận ngày càng quan trọng với Trung Quốc, Nhật Bản và các vùng lãnh thổ khác. [28] Hơn nữa, các Bộ Giáo dục trên khắp Đông Nam Á đã coi tiếng Anh là một kỹ năng quan trọng mà công dân của họ phải học ngay từ khi còn nhỏ nếu các quốc gia đó muốn hiện đại hóa và tham gia vào thế giới toàn cầu hóa ngày nay. Ở Việt Nam, kể từ những năm 1990, tại các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh, tiếng Anh cho học sinh tiểu học đã được đưa vào dạy trong chương trình thí điểm tại các trung tâm ngoại ngữ và một số trường tiểu học. Một số trường tư thục trên khắp cả nước cũng đã bắt đầu dạy tiếng Anh cho trẻ em từ 5 hoặc 6 tuổi [33], đáp ứng nhu cầu của xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) đã có Công văn số 6627/TH ngày 18 tháng 9 năm 1996 hướng dẫn việc dạy học tiếng 6 Anh ở các trường tiểu học Việt Nam và dạy học ngoại ngữ ở các trường tiểu học.
Tiếng Anh được đưa vào môn học tự chọn trong học kỳ 2 của lớp 3 với 2 tiết học (Mỗi tiết 40 phút) mỗi tuần. Các trường tiểu học, phụ huynh và học sinh trên cả nước ủng hộ đông đảo đề xuất này. Dần dần, việc giảng dạy tiếng Anh ở các trường tiểu học đã được phổ biến trên toàn quốc, từ các thành phố lớn cho đến nhiều thị trấn và thậm chí cả những vùng nông thôn. Từ đó, nhu cầu cho việc học tiếng Anh ở cấp tiểu học ngày càng tăng một cách rõ rệt.
Để đáp ứng nhu cầu này, Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 50/2003 QĐ-BGD & DT vào ngày 30 tháng 10 năm 2003, về việc giới thiệu một chương trình tiếng Anh tùy chọn ở cấp tiểu học, thay cho chương trình thí điểm năm 1996. Theo quyết định, từ năm 2003 học sinh ở các trường tiểu học phải học ngoại ngữ như một môn học tự chọn từ lớp 3 đến lớp 5 với 2 tiết 40 phút mỗi tuần. Từ năm 2006, tiếng Anh sẽ trở thành bắt buộc với 4 tiết 40 phút tiết mỗi tuần. Gần đây, Bộ GD&ĐT đã tiếp tục ban hành Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 với mục tiêu cải thiện toàn diện năng lực ngoại ngữ của học sinh trên phạm vi cả nước [13].
Tuy nhiên, do nhiều yếu tố cả chủ quan và khách quan, công tác DHTA ở nước ta chưa đạt được kết quả như mong đợi. Phương pháp DHTA ở Việt Nam còn khá nặng về hướng tiếp cận truyền thống, chú trọng đến vai trò của giáo viên hơn là theo hướng coi người học như trung tâm của quá trình dạy học. Cụ thể hơn, phương pháp giảng dạy phổ biến hiện hành có các đặc điểm sau: • Nhấn mạnh vào kỹ năng đọc và viết ngay từ giai đoạn đầu • Sử dụng nhiều các bài tập lặp đi lặp lại và cả lớp đồng thanh với mục tiêu giúp trẻ học từ một cách hoàn hảo • Thiếu sự quan tâm và cơ hội sử dụng ngôn ngữ một cách tự do hơn và cho các mục đích giao tiếp hoặc tưởng tượng [30] Điều này một phần là do giáo viên dạy theo cách họ được đào tạo ở trường đại học (vốn được dành cho cấp 2 hoặc 3) và rất ít giáo viên được đào tạo đặc biệt để dạy trẻ. Do đó, trong một thời gian dài, hầu như các kĩ năng và mục tiêu giáo dục được thiết kế đặc biệt cho trẻ không được chú trọng, mà trong đó, đặc biệt là 7 năng lực giao tiếp.
Giao tiếp là một hoạt động hàng ngày diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi và trong mọi lĩnh vực, những cá nhân có kỹ năng giao tiếp tốt sẽ có nhiều mối quan xã hội, sẽ dễ dàng phát triển. Giao tiếp hiệu quả giúp HS nâng cao kỹ năng truyền đạt đồng thời mang lại nhiều thiện cảm và ấn tượng với những người xung quanh bản thân. Giao tiếp là điều kiện tồn tại của xã hội do bản thân xã hội là một cộng đồng có sự ràng buộc, liên kết với nhau; ở đó, con người kết nối với nhau thông qua giao tiếp. Trong thế kỷ XXI, đặc biệt là trong thời kỳ toàn cầu hóa, kỹ năng giao tiếp lại càng trở nên quan trọng.
Khả năng giao tiếp của mỗi cá nhân có thể được phát triển dưới nhiều hình thức nhưng chủ yếu là thông qua hoạt động dạy học; do đó, dạy học là một hoạt động quan trọng trong nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, cải thiện hệ tư tưởng và ý thức trách nhiệm xã hội. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là phát triển khả năng giao tiếp cho cho học sinh là một vấn đề hết sức cần thiết. Nhiều hội thảo, tham luận, tham luận, đề tài nghiên cứu được tổ chức trong cả nước đã đề cập đến các vấn đề trong dạy học: thực trạng dạy học dạy học, đổi mới phương pháp dạy học dạy học, các bước nâng cao quản lý chất lượng DHTA và dạy học, quản lí dạy theo hướng phát triển năng lực giao tiếp. Ngày 7/4/2011, Trường Đại học Hải Phòng tổ chức Hội thảo quốc tế “Quản lý chất lượng đào tạo tiếng Anh trong trường đại học giai đoạn 2011-2015” (The International Conference on “Quality Management of Education and Training in Universities 2011- 2015”).
Hội thảo nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc dạy và học tiếng Anh, cũng như chia sẻ kinh nghiệm đào tạo và quản lý đào tạo tiếng Anh giữa các cơ sở, cũng như cung cấp đào tạo tiếng Anh nói chung. Tại sự kiện, các chuyên gia Anh ngữ Hoa Kỳ đã thuyết trình về phương pháp giảng dạy tiếng Anh sáng tạo, hiệu quả và trao đổi kinh nghiệm giảng dạy. Như vậy, nghiên cứu về dạy học Tiếng Anh và quản lý dạy học Tiếng Anh đã có khá nhiều nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau. Các nghiên cứu đã góp phần quan trọng trong việc phân tích chính xác thực trạng DHTA ở cơ sở, địa phương và các cấp học, từ đó xác định điểm mạnh và điểm yếu để các nhà nghiên cứu cùng thảo luận và học hỏi lẫn nhau.
Trên cơ sở những ý tưởng, biện pháp khả thi và khoa 8 học, các nghiên cứu đã góp phần nâng cao công tác quản lý chất lượng dạy học ngoại ngữ. Tuy nhiên trên thực tế số lượng học sinh thực sự giao tiếp được theo mục tiêu và nội dung chương trình Tiếng Anh tiểu học hiện nay rất ít. Đây là vấn đề luôn cần được nghiên cứu và tìm hiểu nhằm tìm ra những biện pháp hữu hiệu hơn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Anh đạt được mục tiêu đặt ra. Chính vì vậy, tác giả cho rằng việc nghiên cứu thực trạng để từ đó xác lập các biên pháp quản lý DHTA ở các trường TH trên địa bàn huyện Yên Lạc là cần thiết và cấp bách, góp phần thúc đẩy sự phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng DHTA tại huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc ngày càng tốt hơn.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một trong những khái niệm đã quá đỗi quen thuộc trong cuộc sống, chúng ta thực hành, bàn luận và dạy về hoạt động này mỗi ngày. Quản lý tốt là một thành phần không thể thiếu trong thế giới toàn cầu hóa, công nghiệp hóa ngày nay, quản lý hiệu quả là mục tiêu mà mỗi đơn vị nói chung và mỗi cá nhân nói riêng luôn luôn hướng tới. Trong suốt chiều dài lịch sử học thuật về quản lý, đã có rất nhiều khái niệm khác nhau được đưa ra, trong đó có thể điểm qua một số quan điểm tiêu biểu như sau: Tác giả Boddy (người Anh) – một người học giả nổi tiếng về quản lý đã nhận định “Quản lý là một hoạt động chung của con người trong môi trường gia đình, xã hội và chính trị, cũng như trong tổ chức” [20].
Tác giả Stephen Robbins (người Mỹ) thì cho rằng “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và quản lý hành động của các thành viên trong tổ chức và việc sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhằm hoàn thành các mục tiêu đã đề ra của tổ chức” [35]. Về phía các nhà nghiên cứu tại Việt Nam thì tác giả Trần Kiểm có viết “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt được mục đích nhất định” [8]. Theo những định nghĩa kinh điển nhất, hoạt động quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý 9 (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra [4].