Tổng quan về luận án

Bối cảnh giáo dục Việt Nam đang trải qua bước chuyển mình mang tính lịch sử khi triển khai Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, cùng với việc áp dụng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT. Trong quá trình chuyển dịch từ nền giáo dục truyền thụ kiến thức nặng về "dạy chữ" sang mô hình phát triển phẩm chất, năng lực toàn diện của học sinh, công tác quản lý chất lượng (QLCL) dạy học tại các trường trung học phổ thông (THPT) công lập bộc lộ nhiều điểm nghẽn mang tính hệ thống. Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục của nghiên cứu sinh Phạm Quốc Toản với đề tài "Quản lý chất lượng dạy học của các trường trung học phổ thông công lập Thành phố Hà Nội theo tiếp cận bảo đảm chất lượng" (Chuyên ngành: Quản lý giáo dục, Mã số: 9 14 01 14, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 2024) khẳng định tính tiên phong trong việc thiết lập hệ thống quản lý vận hành dựa trên triết lý bảo đảm chất lượng (Quality Assurance - QA) nội bộ cho bậc học phổ thông.

Khoảng trống nghiên cứu (Research Gap) được xác định rõ nét: Mặc dù lý luận QLCL giáo dục trên thế giới đã phát triển từ kiểm soát chất lượng (Quality Control) sang bảo đảm chất lượng (QA) và quản lý chất lượng tổng thể (TQM) (Sallis, 2002), nhưng phần lớn các mô hình BĐCL hiện hành tại Việt Nam (như Thông tư 18/2018/TT-BGDĐT) hay các bộ tiêu chuẩn quốc tế (AUN-QA, EFQM) chủ yếu tập trung vào kiểm định cấp cơ sở đào tạo hoặc giáo dục đại học. Hoàn toàn vắng bóng một khung tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo lượng hóa gắn kết chặt chẽ quy trình dạy học CIPO (Context - Input - Process - Output) với chu trình cải tiến liên tục cho cấp học THPT công lập tại các đô thị đặc thù như Hà Nội.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Khung lý thuyết và mô hình quản lý chất lượng dạy học theo tiếp cận BĐCL cho trường THPT công lập cần được thiết lập như thế nào để tích hợp giữa mô hình CIPO và chu trình cải tiến liên tục?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Thực trạng QLCL dạy học theo tiếp cận BĐCL tại các trường THPT công lập TP. Hà Nội giai đoạn 2019–2022 đang bộc lộ những điểm mạnh, hạn chế, cơ hội và thách thức (SWOT) cụ thể nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Hệ thống giải pháp quản lý nào có khả năng can thiệp hữu hiệu nhằm chuẩn hóa quy trình, tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng chuẩn đầu ra?
  • Giả thuyết khoa học (H1): Nếu xây dựng được Bộ tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo chất lượng gắn với quy trình QLCL dạy học tiếp cận BĐCL theo tiến trình CIPO và chu trình cải tiến nâng cao PEAPDC-EA, trường THPT công lập sẽ thiết lập được cơ chế tự đánh giá thường xuyên, phát hiện sớm sai sót và cải tiến chất lượng dạy học liên tục, đáp ứng yêu cầu Chương trình GDPT 2018.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trên mẫu khảo sát chọn lọc gồm 50 trường THPT công lập đại diện cho các khu vực nội thành (thành thị) và ngoại thành (nông thôn) trên tổng số 118 trường THPT công lập toàn TP. Hà Nội (chiếm tỷ lệ 42,37%), với dữ liệu thực chứng đa chiều giai đoạn 2019–2022.


Literature Review và Positioning

Tổng quan tài liệu học thuật quốc tế và trong nước cho thấy sự tiến hóa rõ rệt trong các trường phái quản lý quá trình dạy học và chất lượng giáo dục. Về mô hình dạy học, Dick & Carey (2005) định hình mô hình thiết kế hệ thống dạy học 10 bước dựa trên phân tích nhu cầu và chuẩn đầu ra. Scheerens & Creemers (1989) phát triển mô hình CIPO (Context - Input - Process - Output) làm nền tảng phân tích hiệu quả trường học. Về chất lượng, Edward Sallis (2002) trong công trình kinh điển "Total Quality Management in Education" đã phân tích bản chất thuật ngữ chất lượng bắt nguồn từ gốc Latin "qualis", chỉ ra sự chuyển dịch từ chất lượng tuyệt đối sang chất lượng tương đối và sự thỏa mãn của các bên liên quan.

                    TIẾN TRÌNH TIẾN HÓA LÝ THUYẾT QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG

Trong bức tranh học thuật tồn tại hai luồng quan điểm đối thoại sâu sắc:

  1. Trường phái quản lý hành chính tập trung truyền thống: Nhấn mạnh vào việc kiểm soát đầu ra (Summative Assessment), thanh tra hành chính và tuân thủ định mức pháp quy nghiêm ngặt.
  2. Trường phái quản trị dựa vào nhà trường (School-Based Management - SBM) và văn hóa chất lượng: Được đại diện bởi Bush & Glover (2003), MacNiel & McClanahan (2005), và báo cáo Improving Scottish Education (2006). Luồng quan điểm này khẳng định chất lượng giáo dục không thể cải thiện thông qua mệnh lệnh hành chính đơn thuần mà phải dựa trên quyền tự chủ, lãnh đạo dạy học chia sẻ (Shared Instructional Leadership) và sự tham gia sâu sắc của cộng đồng.

Tại Việt Nam, các công trình của Phạm Thành Nghị (2000), Nguyễn Hữu Châu (2007), Phan Văn Kha (2006), Nguyễn Đức Chính (2002) và đặc biệt là hệ thống nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hùng (2010, 2013, 2018) về văn hóa nhà trường, mô hình trường Charter School và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hiệu quả trường phổ thông đã đặt nền móng lý luận vững chắc.

So sánh với các nghiên cứu và khung chuẩn quốc tế:

  • Khung văn hóa chất lượng châu Âu (EFQM, 2003): Đề xuất 11 tiêu chí đánh giá hoạt động cơ sở giáo dục nhưng còn nặng về cơ cấu tổ chức bậc đại học, thiếu tính linh hoạt khi áp dụng vào lớp học phổ thông.
  • Bộ tiêu chuẩn bảo đảm chất lượng Đông Nam Á (AUN-QA 2015, 2016): Xây dựng hệ thống 11 tiêu chí cấp chương trình và 25 tiêu chuẩn cấp cơ sở giáo dục, song tập trung chính vào đào tạo sau phổ thông và các chỉ số nghiên cứu khoa học.

Luận án của Phạm Quốc Toản đã định vị chính xác vị trí học thuật bằng việc kế thừa các nguyên lý cốt lõi của EFQM, AUN-QA và TQM, nhưng tinh chỉnh và cấu trúc hóa thành một khung đánh giá và quản lý chuyên biệt cho trường THPT công lập trong môi trường giáo dục định hướng năng lực.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng thuyết Quản lý chất lượng tổng thể của Sallis (2002) và phát triển mô hình chu trình PDCA (Plan - Do - Check - Act) của W. Edwards Deming thành chu trình quản lý chất lượng cải tiến 7 bước chuyên biệt cho giáo dục: PEAPDC-EA.

                       CHU TRÌNH CẢI TIẾN CHẤT LƯỢNG PEAPDC-EA

Mô hình lý thuyết xác lập 4 mệnh đề khoa học (Propositions):

  • Mệnh đề 1 (P1): Chất lượng dạy học THPT là một hàm số đa biến phụ thuộc vào mức độ tương thích giữa thiết kế chuẩn đầu ra (CĐR) với quản lý quá trình dạy và học thực tế tại lớp học.
  • Mệnh đề 2 (P2): Việc tích hợp chu trình PEAPDC-EA vào từng thành tố của CIPO cho phép chuyển hóa cơ chế kiểm soát chất lượng thụ động sang cơ chế BĐCL phòng ngừa rủi ro sai lệch mục tiêu sư phạm.
  • Mệnh đề 3 (P3): Hiệu lực của phân cấp quản lý phụ thuộc vào mức độ chuẩn hóa của quy trình "Chủ trì - Phối hợp" giữa các bên liên quan.
  • Mệnh đề 4 (P4): Lãnh đạo chia sẻ kết hợp với quản lý nguồn nhân lực dựa trên khung năng lực tạo ra động lực nội tại thúc đẩy giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án là sự tích hợp đa tầng giữa:

  1. Mô hình hệ thống CIPO: Phân định rõ 4 thành tố Bối cảnh (Context) – Đầu vào (Input) – Quá trình dạy học tại lớp học và HĐGD (Process) – Đầu ra và tác động (Output/Outcome/Impact).
  2. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) và Tiếp cận tham dự: Xác lập liên minh giáo dục "Sở GD&ĐT – [Trường THPT – Gia đình/CMHS – Thành viên cộng đồng] – Học sinh".
  3. Lý thuyết quản lý nguồn nhân lực chiến lược dựa trên năng lực: Lấy chuẩn nghề nghiệp và khung năng lực thực hiện làm thước đo phân công, đánh giá và đãi ngộ giáo viên.

Điều kiện biên (Boundary Conditions) của khung phân tích được xác lập rõ: Áp dụng cho các trường THPT công lập vận hành trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, chịu sự quản lý chuyên môn của Sở GD&ĐT, hoạt động theo cơ chế ngân sách công và tự chủ từng phần, không áp dụng nguyên bản cho hệ thống trường tư thục, quốc tế hoặc trường chuyên biệt.


Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án lựa chọn thế giới quan triết học Thực chứng kết hợp Thực dụng (Positivist-Pragmatic Paradigm), áp dụng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp đa tầng (Multi-level Mixed Methods Design) kết hợp định lượng và định tính nhằm bảo đảm tính khách quan và độ sâu giải thích.

                            SƠ ĐỒ THIẾT KẾ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Quy trình nghiên cứu và công cụ

Chiến lược chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên (Stratified Random Sampling) được áp dụng để chọn 50 trường THPT công lập trên địa bàn TP. Hà Nội, bao phủ đầy đủ các vùng địa lý kinh tế - xã hội:

  • Khu vực đô thị/nội thành: Đại diện cho điều kiện CSVC thuận lợi, áp lực phân luồng cao.
  • Khu vực nông thôn/ngoại thành: Đại diện cho điều kiện nguồn lực trung bình, tính đa dạng của cộng đồng.

Công cụ thu thập dữ liệu gồm 5 bộ phiếu hỏi cấu trúc chuẩn hóa dành riêng cho:

  1. Cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn).
  2. Giáo viên giảng dạy các bộ môn.
  3. Nhân viên hỗ trợ giáo dục.
  4. Cha mẹ học sinh (CMHS) và thành viên cộng đồng (TVCĐ).
  5. Học sinh THPT.

Quy trình bảo đảm độ tin cậy và giá trị (Validity & Reliability): Hệ thống bảng hỏi được kiểm tra độ giá trị nội dung qua phương pháp chuyên gia với các nhà khoa học của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; độ tin cậy nhất quán nội tại được kiểm định qua hệ số Cronbach's Alpha đạt chuẩn ($\alpha \ge 0.82$ trên các thang đo). Kỹ thuật tam giác đạc dữ liệu (Data Triangulation) được thực thi nghiêm ngặt thông qua việc đối chiếu chéo phản hồi giữa CBQL - GV - CMHS - HS với số liệu thống kê thứ cấp 3 năm học (2019–2022) của Sở GD&ĐT Hà Nội.


Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Kết quả khảo sát thực trạng QLCL dạy học theo tiếp cận BĐCL tại 50 trường THPT công lập Hà Nội làm sáng tỏ những phát hiện quan trọng:

                  KHOẢNG CÁCH THỰC TRẠNG GIỮA QUẢN LÝ ĐẦU VÀO VÀ ĐẦU RA
                 Nhóm Tiêu chí Đầu vào             Nhóm Tiêu chí Đầu ra & Hậu kiểm
  1. Sự lệch pha sâu sắc giữa quản lý đầu vào và quản lý đầu ra (Output-Outcome Lag): Công tác quản lý chất lượng vẫn tập trung chủ yếu ở khâu đầu vào như tuyển sinh, kiểm soát kế hoạch dạy học hành chính và thẩm định cơ sở vật chất (đạt 68,4% mức khá/tốt). Trong khi đó, việc quản lý đầu ra, đặc biệt là khảo sát theo dõi "dấu vết" cựu học sinh sau tốt nghiệp (Chỉ báo Tiêu chí 12) và đánh giá mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra đối với học tập suốt đời chỉ đạt mức sơ khai (28,6% trường có thực hiện nhưng không định kỳ).

  2. Nghẽn mạch hệ thống thông tin chất lượng hai chiều (Chỉ báo Tiêu chí 11): Hệ thống thông tin quản lý giáo dục hiện nay chủ yếu vận hành theo chiều dọc đơn tuyến (báo cáo số liệu từ trường lên Sở GD&ĐT). Thiếu vắng một nền tảng dữ liệu mở giúp phản hồi thông tin chất lượng dạy học kịp thời giữa giáo viên - học sinh - cha mẹ học sinh để phục vụ việc điều chỉnh tiến trình sư phạm tại lớp học.

  3. Tính hình thức trong quy trình tự đánh giá và cải tiến liên tục (Chỉ báo Tiêu chí 10): Hầu hết các trường chỉ thực hiện tự đánh giá khi có đợt kiểm định chất lượng định kỳ 5 năm từ cơ quan quản lý để đạt chuẩn quốc gia theo Thông tư 18/2018/TT-BGDĐT, chưa chuyển hóa thành thói quen tự đánh giá nội bộ thường xuyên theo từng học kỳ hay năm học bằng các chu trình khép kín như PEAPDC-EA.

  4. Bất cập trong cơ chế "Chủ trì - Phối hợp" và đánh giá năng lực giáo viên: Phân tích thực trạng cho thấy việc đánh giá giáo viên vẫn nặng về thành tích thi cử và danh hiệu thi đua, chưa gắn kết chặt chẽ với khung năng lực sư phạm hiện đại và mức độ phát triển năng lực của từng nhóm đối tượng học sinh khác nhau. Mối liên kết "Nhà trường - Gia đình - Cộng đồng" phần lớn dừng lại ở việc huy động tài trợ kinh phí hơn là cùng tham gia giám sát và nâng cao chất lượng dạy học.

Trích dẫn nguyên văn từ nguồn luận án

"Quá trình dạy học được xem là quá trình GV xác định và thiết lập mục tiêu và phát triển tài liệu dạy học gắn với các chiến lược dạy học để truyền thụ kiến thức cho HS." (Phạm Quốc Toản, 2024, Chương I, tr. 10).

"Đảm bảo chất lượng nói chung hay trong GD/dạy học nói riêng xảy ra trước và trong quá trình sản xuất hay cung cấp dịch vụ để ngăn chặn các lỗi hay khiếm khuyết xảy ra ngay từ đầu, đảm bảo đạt tới các tiêu chí chất lượng được xác định từ trước, đảm bảo làm đúng sự vật ngay tại thời điểm đầu tiên, và mọi thời gian." (Phạm Quốc Toản, 2024, Chương I, tr. 18).

"Đổi mới căn bản công tác QLGD, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GD, đào tạo, coi trọng QLCL…" (Nghị quyết 29-NQ/TW, trích dẫn trong Luận án, tr. 1).

Hệ thống 5 giải pháp đột phá đề xuất

Luận án đề xuất hệ thống 5 giải pháp có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ, tạo thành khung can thiệp đồng bộ:

                          HỆ THỐNG 5 GIẢI PHÁP CAN THIỆP ĐỒNG BỘ
  1. Giải pháp 1: Đề xuất Bộ tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo chất lượng dạy học và QLCL dạy học tiếp cận BĐCL gồm 3 tiêu chuẩn cốt lõi (BĐCL Đầu vào, BĐCL Quá trình tại lớp học, BĐCL Đầu ra và hệ thống thông tin) chia thành 12 tiêu chí tương ứng với các bước của quy trình CIPO.
  2. Giải pháp 2: Quản lý phát triển quy trình tự đánh giá và phản hồi cải tiến chất lượng bên trong tại cấp trường THPT dựa trên chu trình 7 bước PEAPDC-EA.
  3. Giải pháp 3: Chỉ đạo cải tiến quy trình "Chủ trì - Phối hợp" của cơ chế quản lý phân cấp và tự chủ trách nhiệm xã hội giữa Sở GD&ĐT Hà Nội và các trường THPT.
  4. Giải pháp 4: Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên theo hệ thống mục tiêu/chỉ tiêu dựa vào khung năng lực nghề nghiệp và chính sách tạo động lực làm việc tích cực.
  5. Giải pháp 5: Hoàn thiện cơ chế phối hợp đa bên "Nhà trường – Gia đình – Cộng đồng" trong việc tham gia giám sát, đóng góp trí lực và huy động nguồn lực tài chính, CSVC phục vụ dạy học.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn thừa nhận các giới hạn nghiên cứu:

  • Giới hạn không gian và phân khúc mẫu: Mẫu khảo sát tập trung tại TP. Hà Nội – một đô thị đặc biệt với mật độ dân số cao và điều kiện kinh tế - giáo dục phát triển hàng đầu cả nước; kết quả có thể cần điều chỉnh khi áp dụng tại các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
  • Giới hạn về đối tượng trường học: Nghiên cứu chỉ tập trung vào hệ thống trường THPT công lập không chuyên, chưa mở rộng sang khối THPT ngoài công lập, trường liên cấp quốc tế hay trường THPT chuyên biệt.
  • Giới hạn về thời gian can thiệp thực nghiệm: Do khuôn khổ thời gian của chương trình đào tạo tiến sĩ, luận án mới thực hiện thử nghiệm diện hẹp đối với Giải pháp 1 và khảo nghiệm tính cấp thiết/khả thi qua ý kiến chuyên gia, chưa thể triển khai can thiệp thử nghiệm theo chiều dọc (Longitudinal Study) kéo dài trọn vẹn chu kỳ một khóa học 3 năm (Lớp 10 đến Lớp 12).

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):

  1. Mở rộng kiểm định cấu trúc Bộ tiêu chuẩn BĐCL dạy học bằng kỹ thuật mô hình hóa phương trình cấu trúc (Structural Equation Modeling - SEM) để xác định trọng số chính xác của từng chỉ báo.
  2. Thiết kế phần mềm chuyển đổi số quản lý dữ liệu BĐCL dạy học tích hợp trí tuệ nhân tạo để tự động hóa chu trình PEAPDC-EA tại các nhà trường.
  3. Nghiên cứu so sánh đối sánh (Benchmarking) mô hình BĐCL dạy học giữa hệ thống trường công lập và trường tư thục tự chủ chất lượng cao.
  4. Đánh giá tác động dài hạn của mô hình đối với kết quả học tập đại học và sự phát triển nghề nghiệp của học sinh sau khi tốt nghiệp THPT.

Tác động và ảnh hưởng

Về mặt học thuật, công trình đóng góp một cơ sở lý luận hoàn chỉnh, hệ thống hóa và giải quyết bài toán ứng dụng các lý thuyết quản lý chất lượng hiện đại (TQM, QA, CIPO, PDCA) vào thực tiễn quản lý giáo dục phổ thông Việt Nam, mở ra hướng nghiên cứu mới về văn hóa bảo đảm chất lượng nội bộ cấp trường học.

Về mặt chính sách và thực tiễn, luận án cung cấp cho Bộ GD&ĐT và trực tiếp là Sở GD&ĐT TP. Hà Nội một công cụ quản lý và giám sát khoa học. Bộ tiêu chuẩn và chu trình PEAPDC-EA giúp các cấp quản lý có thể lượng hóa chất lượng dạy học, thay thế dần phương thức thanh kiểm tra hành chính mang tính sự vụ bằng cơ chế tự đánh giá và hỗ trợ cải tiến liên tục. Mô hình thúc đẩy các trường THPT nâng cao tính tự chủ, giải trình minh bạch và gắn kết hiệu quả các nguồn lực xã hội vì sự tiến bộ của người học.


Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục: Tiếp cận một khung lý thuyết tích hợp CIPO và PEAPDC-EA mẫu mực, cùng hệ thống công cụ khảo sát thực chứng được thiết kế công phu.
  • Cán bộ lãnh đạo, quản lý Sở/Phòng GD&ĐT: Sở hữu bộ công cụ chẩn đoán thực trạng và khung chỉ đạo phân cấp quản lý chất lượng dạy học khả thi, bám sát yêu cầu Chương trình GDPT 2018.
  • Hiệu trưởng và Ban giám hiệu các trường THPT: Có được cẩm nang hướng dẫn tự đánh giá nội bộ, phân công giáo viên theo năng lực và tối ưu hóa cơ chế phối hợp với cha mẹ học sinh.
  • Đội ngũ giáo viên phổ thông: Nhận diện rõ các tiêu chí của dạy học phát triển năng lực, từ đó chủ động điều chỉnh kế hoạch bài dạy và phương pháp đánh giá quá trình tại lớp học.
  • Cha mẹ học sinh và cộng đồng xã hội: Được tạo cơ chế chính thức để tham gia đóng góp ý kiến, đồng hành và giám sát chất lượng giáo dục thực chất của nhà trường.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đó là sự sáng tạo ra chu trình PEAPDC-EA dựa trên việc mở rộng chu trình PDCA của Deming và tích hợp trọn vẹn vào 4 thành tố của mô hình dạy học CIPO. Mô hình này giải quyết triệt để hạn chế của việc kiểm soát chất lượng truyền thống bằng cách thiết lập cơ chế phát hiện sớm sai sót và cải tiến liên tục tại từng khâu của quá trình sư phạm.

2. Điểm mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây là gì? Khác với các nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát đơn lẻ ý kiến giáo viên hoặc cán bộ quản lý, luận án áp dụng quy trình tam giác đạc đa tầng với 5 nhóm khách thể (CBQL, GV, NV, CMHS, HS) trên mẫu khảo sát 50 trường đại diện (42,37% quy mô toàn thành phố), kết hợp phân tích ma trận SWOT thực chứng và thử nghiệm giải pháp thực tế.

3. Phát hiện thực trạng nào mang tính bất ngờ và có ý nghĩa cảnh báo cao nhất? Đó là sự "đứt gãy" hoàn toàn ở khâu quản lý đầu ra và hệ thống thông tin hai chiều: Trong khi 68,4% hoạt động quản lý tập trung kiểm soát chặt chẽ đầu vào hành chính, chỉ có 28,6% trường có cơ chế theo dõi mức độ đáp ứng năng lực của học sinh sau tốt nghiệp. Điều này cho thấy quản lý giáo dục vẫn đang chạy theo quy trình hình thức hơn là hiệu quả thực chất của sản phẩm giáo dục.

4. Luận án có cung cấp quy trình nhân rộng và tái lập (Replication Protocol) không? Có. Toàn bộ Bộ tiêu chuẩn 3 tiêu chuẩn, 12 tiêu chí kèm hệ thống phiếu hỏi, quy trình 7 bước PEAPDC-EA và cẩm nang hướng dẫn tự đánh giá được chuẩn hóa chi tiết trong các chương nội dung và hệ thống phụ lục (Phụ lục 1 đến 6), cho phép các địa phương khác áp dụng và đối sánh trực tiếp.

5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo như thế nào? Chuyển đổi số toàn diện hệ thống BĐCL nội bộ; xây dựng chỉ số văn hóa chất lượng trường học (School Quality Culture Index - SQCI); và thiết lập mô hình dự báo năng lực học tập suốt đời của học sinh dựa trên dữ liệu lớn (Big Data Analytics) trong giáo dục phổ thông.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Quốc Toản đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, mang lại 6 đóng góp cốt lõi:

  1. Xác lập hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về QLCL dạy học THPT công lập theo tiếp cận BĐCL.
  2. Phát triển thành công khung phân tích tích hợp giữa mô hình CIPO và chu trình cải tiến nâng cao PEAPDC-EA.
  3. Phác họa bức tranh thực trạng đa chiều, khách quan và khoa học về chất lượng dạy học tại 50 trường THPT công lập Hà Nội giai đoạn 2019–2022 qua phân tích SWOT.
  4. Đề xuất Bộ tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo chất lượng gồm 3 tiêu chuẩn lớn và 12 tiêu chí chuyên biệt bám sát Chương trình GDPT 2018.
  5. Xây dựng hệ thống 5 giải pháp quản lý đồng bộ, đã được thử nghiệm và khảo nghiệm chứng minh tính cấp thiết và tính khả thi vượt trội.
  6. Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giá trị cho việc đổi mới cơ chế phân cấp quản lý giáo dục và xây dựng văn hóa chất lượng bền vững tại Thủ đô Hà Nội cũng như cả nước.