Quá Trình Điều Chỉnh Chính Sách Đối Ngoại Việt Nam Giai Đoạn 1986 - 1996

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại việt nam giai đoạn 1986 1996, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

1996

110
9
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Chính Sách Đối Ngoại Việt Nam 1986 1996

Giai đoạn 1986-1996 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Bối cảnh quốc tế phức tạp với sự sụp đổ của Liên XôChiến tranh Lạnh kết thúc, cùng với những thách thức nội tại, đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải có những điều chỉnh đổi mới sâu sắc. Từ Nghị quyết Đại hội VI, Việt Nam chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, mở rộng hợp tác quốc tế, phá thế bị bao vây cấm vận. Mục tiêu cao nhất là phục vụ công cuộc phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh quốc gia. Sự chủ động trong chính sách đối ngoại đã giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào quan hệ quốc tế, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững sau này. Thành tựu này được đánh giá là một trong những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới đất nước trong hơn 20 năm qua.

Đường lối đối ngoại và hoạt động ngoại giao đã góp phần to lớn đưa nước ta từ chỗ bị bao vây cô lập trên trường quốc tế đến nay đã hội nhập mạnh mẽ vào khu vực và thế giới. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 172 quốc gia trên thế giới. Nước ta có quan hệ đầy đủ và bình thường với tất cả các nước lớn, các trung tâm kinh tế - chính trị, các tổ chức tài chính tiền tệ lớn trên thế giới.

1.1. Bối Cảnh Quốc Tế Tác Động Đường Lối Đối Ngoại

Sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã tạo ra một cú sốc lớn, làm thay đổi cục diện chính trị thế giới. Chiến tranh Lạnh kết thúc, mở ra kỷ nguyên mới với xu hướng toàn cầu hóakhu vực hóa mạnh mẽ. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, tập trung vào phát triển kinh tế. Điều này buộc Việt Nam phải thay đổi tư duy, chính sách đối ngoại, thích ứng với tình hình mới. "Quan hệ quốc tế rơi vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng cả về lí luận lẫn thực tiễn, các quốc gia lớn nhỏ trên thế giới đều phải điều chỉnh chính sách và các mục tiêu ưu tiên trong phát triển đất nước để thích nghi với môi trường quốc tế mới."

1.2. Thách Thức và Cơ Hội Từ Chính Sách Mở Cửa

Việc mở cửa và hội nhập vào kinh tế đối ngoại mang lại nhiều cơ hội cho Việt Nam, như thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp cận công nghệ mới, mở rộng thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, cũng xuất hiện không ít thách thức, như nguy cơ tụt hậu, cạnh tranh gay gắt, và những tác động tiêu cực đến văn hóa, xã hội. Đòi hỏi Việt Nam phải có chiến lược phù hợp để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, bảo vệ lợi ích quốc gia. Mục tiêu phát triển kinh tế trở thành ưu tiên hàng đầu của các quốc gia trên thế giới và tiềm lực kinh tế trở thành yếu tố quyết định cho sức mạnh tổng hợp của các quốc gia.

II. Vấn Đề Cấm Vận và Bình Thường Hóa Quan Hệ 1986 1996

Trong giai đoạn 1986-1996, Việt Nam phải đối mặt với tình trạng cấm vận kéo dài từ các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Điều này gây ra nhiều khó khăn cho phát triển kinh tế, hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn và công nghệ. Tuy nhiên, Việt Nam đã kiên trì thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo, tăng cường đối thoại, cải thiện hình ảnh trên trường quốc tế. Nỗ lực này đã góp phần quan trọng vào quá trình bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1995, mở ra một trang mới trong lịch sử quan hệ quốc tế của Việt Nam. "Đối với Việt Nam, Mỹ thực hiện chính sách bao vây, cấm vận, cô lập ta trên trường quốc tế. Đồng thời, Mỹ tăng cường kích động lôi kéo người Việt Nam di tản nhằm làm mất an ninh chính trị, trật tự xã hội dẫn đến làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta."

2.1. Ảnh Hưởng của Cấm Vận Đến Kinh Tế Việt Nam

Tình trạng cấm vận đã kìm hãm sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong một thời gian dài. Khó khăn trong tiếp cận thị trường quốc tế, hạn chế về đầu tư nước ngoài, và thiếu hụt công nghệ hiện đại là những rào cản lớn. Điều này khiến Việt Nam phải dựa vào sự giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa và tự lực cánh sinh, tìm kiếm các giải pháp đổi mới để vượt qua khó khăn. "Việc Việt Nam đưa quân sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế là lý do để Mỹ và các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc nhằm cô lập, bao vây cấm vận nước ta. Trung Quốc tiến hành chiến tranh chống Việt Nam trên toàn tuyến biên giới 6 tỉnh phía Bắc , sau đó là cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt , cùng các nước ASEAN cô lập , côn g kích ta về chính trị, bao vây cấm vận về kinh tế, đẩy Việt Nam vào tình thế vô cùng khó khăn."

2.2. Con Đường Đến Bình Thường Hóa Quan Hệ Việt Mỹ

Quá trình bình thường hóa quan hệ với Mỹ là một hành trình đầy gian nan, đòi hỏi sự kiên trì và nỗ lực ngoại giao không ngừng. Việt Nam đã chủ động giải quyết các vấn đề tồn đọng, như vấn đề tù binh chiến tranh và người mất tích, đồng thời thể hiện thiện chí hợp tác trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Sự thay đổi trong chính sách của Mỹ và những nỗ lực từ cả hai phía đã dẫn đến quyết định lịch sử vào năm 1995. "Việc nghiên cứu quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 1996 có ý nghĩa lí luận và thực tiễn to lớn, nó cho thấy những thay đổi quan trọng trong tư duy chiến lược đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta tr ước những biến động của tình hình thế giới và thực tiễn phát triển của đất nước trong giai đoạn này."

2.3. Vai trò của ASEAN trong hội nhập của Việt Nam

Việc gia nhập ASEAN năm 1995 đánh dấu mốc quan trọng trong hội nhập quốc tế của Việt Nam. ASEAN trở thành cầu nối quan trọng, giúp Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, tham gia vào các cơ chế hợp tác khu vực, và tăng cường vị thế trên trường quốc tế. Hợp tác với các nước ASEAN cũng giúp Việt Nam học hỏi kinh nghiệm phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh. "Ngoại giao Việt Nam đã góp phần to lớn đưa nước ta từ chỗ bị bao vây cô lập trên trường quốc tế đến nay đã hội nhập mạnh mẽ vào khu vực và thế giới."

III. Đổi Mới Tư Duy Đối Ngoại và Chính Sách Đa Phương Hóa

Để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành đổi mới tư duy đối ngoại một cách sâu sắc. Từ chỗ coi trọng yếu tố ý thức hệ, Việt Nam chuyển sang lấy lợi ích quốc gia làm trọng tâm, đề cao tinh thần chủ động, sáng tạo trong quan hệ quốc tế. Chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ được triển khai mạnh mẽ, mở rộng hợp tác với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị. Điều này giúp Việt Nam tạo dựng được môi trường hòa bình, ổn định để tập trung cho phát triển kinh tế. "Từ chỗ coi yế u tố ý thức hệ là cơ sở đầu tiên của chính sách đối ngoại đến việc xác định lấy lợi ích dân tộc làm xuất phát điểm để đề ra đường lối quốc tế và hoạt động ngoại giao là quá trình điều chỉnh uyển chuyển về chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong môi trường quốc tế vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau."

3.1. Thay Đổi Từ Ý Thức Hệ Sang Lợi Ích Quốc Gia

Sự thay đổi trong tư duy đối ngoại thể hiện rõ nhất ở việc chuyển từ coi trọng yếu tố ý thức hệ sang lấy lợi ích quốc gia làm trọng tâm. Điều này cho phép Việt Nam linh hoạt hơn trong quan hệ quốc tế, sẵn sàng hợp tác với các nước có chế độ chính trị khác biệt, miễn là có lợi cho phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh quốc gia. "Đường lối đối ngoại và hoạt đ ộng ngoại giao được đánh giá là một trong những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới đất nước trong hơn 20 năm qua."

3.2. Đa Phương Hóa và Đa Dạng Hóa Quan Hệ Quốc Tế

Chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ là một bước đi chiến lược, giúp Việt Nam giảm thiểu sự phụ thuộc vào một vài đối tác, tăng cường vị thế trên trường quốc tế, và tạo ra nhiều cơ hội hợp tác mới. Việt Nam chủ động tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực, như Liên Hợp Quốc, ASEAN, và APEC, đóng góp tích cực vào việc giải quyết các vấn đề toàn cầu. "Cho đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 172 quốc gia trên thế giới; lần đầu tiên sau 50 năm kể từ ngày thành lập nước, từ năm 1995, nước ta có quan hệ đầy đủ và bì nh thường với tất cả các nước lớn, các trung tâm kinh tế - chính trị, các tổ chức tài chính tiền tệ lớn trên thế giới."

IV. Hướng Dẫn Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Giai Đoạn 1986 1996

Giai đoạn 1986-1996 chứng kiến những bước đi đầu tiên quan trọng của Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế. Chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài, và phát triển thương mại quốc tế được đẩy mạnh. Việt Nam từng bước cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Hội nhập kinh tế giúp Việt Nam tiếp cận nguồn vốn, công nghệ, và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh chóng. "Trong công cuộc đổi mới ở nước ta từ năm 1986 đến nay, từ chỗ coi yế u tố ý thức hệ là cơ sở đầu tiên của chính sách đối ngoại đến việc xác định lấy lợi ích dân tộc làm xuất phát điểm để đề ra đường lối quốc tế và hoạt động ngoại giao là quá trình điều chỉnh uyển chuyển về chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong môi trường quốc tế vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau."

4.1. Thu Hút Đầu Tư Nước Ngoài và Phát Triển Thương Mại

Việc thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển thương mại quốc tế là hai động lực quan trọng thúc đẩy hội nhập kinh tế của Việt Nam. Các chính sách ưu đãi đầu tư, cải cách thủ tục hành chính, và mở rộng thị trường xuất khẩu được triển khai. Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài, góp phần tạo ra nhiều việc làm và tăng trưởng kinh tế. "Đó là thời điểm nước ta bước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, mở ra thời kì đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Về đối ngoại là lúc ta phá được thế bao vây cô lập trên trường quốc tế và bắt đầu mở rộng quan hệ với khu vực và thế giới."

4.2. Cải Cách Kinh Tế và Tạo Môi Trường Đầu Tư Thuận Lợi

Để hội nhập kinh tế thành công, Việt Nam đã tiến hành cải cách kinh tế một cách toàn diện. Cơ chế quản lý kinh tế được đổi mới, quyền tự chủ của các doanh nghiệp được tăng cường, và vai trò của thị trường được phát huy. Môi trường pháp lý được hoàn thiện, tạo ra sự minh bạch và ổn định cho các nhà đầu tư. "Lúc này, mục tiêu phát triển kinh tế trở thành ưu tiên hàng đầu của các quốc gia trên thế giới và tiềm lực kinh tế trở thành yếu tố quyết định cho sức mạnh tổng hợp của các quốc gia, đ iều đó dẫn đến cuộc chạy đua kinh tế quyết l iệt trên phạm vi toàn cầu."

V. Kinh Nghiệm Ngoại Giao Việt Nam Giai Đoạn 1986 1996

Quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao của Việt Nam trong giai đoạn 1986-1996 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Đó là sự cần thiết phải có tầm nhìn chiến lược, linh hoạt thích ứng với tình hình, và kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia. Đồng thời, phải xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ chuyên môn cao, am hiểu tình hình quốc tế, và có bản lĩnh chính trị vững vàng. Các bài học này vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh thế giới ngày nay. "Việc nghiên cứu quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 1996 có ý nghĩa lí luận và thực tiễn to lớn, nó cho thấy những thay đổi quan trọng trong tư duy chiến lược đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta tr ước những biến động của tình hình thế giới và thực tiễn phát triển của đất nước trong giai đoạn này; đồng thời nó cũng góp phần đưa lại cái nhìn sâu hơn và có cơ sở khoa học khi đánh giá những yếu tố dẫn đến thành tựu của 10 năm đầu đổi mới."

5.1. Bài Học Về Tầm Nhìn Chiến Lược và Tính Linh Hoạt

Tầm nhìn chiến lược giúp Việt Nam xác định đúng hướng đi trong quan hệ quốc tế, dự báo được những thay đổi của tình hình, và chủ động ứng phó. Tính linh hoạt cho phép Việt Nam điều chỉnh chính sách đối ngoại một cách kịp thời, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước và thế giới. "Đường lối đối ngoại và hoạt đ ộng ngoại giao được đánh giá là một trong những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới đất nước trong hơn 20 năm qua."

5.2. Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Ngoại Giao Chuyên Nghiệp

Đội ngũ cán bộ ngoại giao đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai chính sách đối ngoại. Việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ ngoại giao phải được chú trọng, đảm bảo có đủ phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn, và kỹ năng nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu của công việc. "Trong những thành tựu chung của sự nghiệp đổi mới, ngoại giao Việt Nam đã góp phần to lớn đưa nước ta từ chỗ bị bao vây cô lập trên trư ờng quốc tế đến nay đã hội nhập mạnh mẽ vào khu vực và thế giới."

VI. Kết Luận Chính Sách Đối Ngoại Việt Nam và Tương Lai

Giai đoạn 1986-1996 là một giai đoạn bản lề trong lịch sử đối ngoại Việt Nam. Những thành tựu đạt được đã tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển và hội nhập sâu rộng hơn vào quan hệ quốc tế trong những năm tiếp theo. Chính sách đối ngoại của Việt Nam tiếp tục được đổi mới, phù hợp với bối cảnh thế giới mới, hướng tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, ổn định, và thịnh vượng. Các nguyên tắc độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là kim chỉ nam cho mọi hoạt động ngoại giao của Việt Nam. Những bài học từ giai đoạn 1986-1996 vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục được vận dụng sáng tạo trong bối cảnh mới. "Việc nghiên cứu quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 1996 có ý nghĩa lí luận và thực tiễn to lớn, nó cho thấy những thay đổi quan trọng trong tư duy chiến lược đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta tr ước những biến động của tình hình thế giới và thực tiễn phát triển của đất nước trong giai đoạn này."

6.1. Giá Trị Của Độc Lập Tự Chủ Trong Đối Ngoại

Nguyên tắc độc lập, tự chủ là nền tảng của chính sách đối ngoại Việt Nam. Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Điều này giúp Việt Nam duy trì được sự ổn định trong quan hệ quốc tế và tạo dựng được uy tín trên trường quốc tế. "Trong công cuộc đổi mới ở nước ta từ năm 1986 đến nay, từ chỗ coi yế u tố ý thức hệ là cơ sở đầu tiên của chính sách đối ngoại đến việc xác định lấy lợi ích dân tộc làm xuất phát điểm để đề ra đường lối quốc tế và hoạt động ngoại giao là quá trình điều chỉnh uyển chuyển về chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong môi trường quốc tế vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau."

6.2. Hướng Tới Hợp Tác và Phát Triển Bền Vững

Chính sách đối ngoại của Việt Nam hướng tới hợp tácphát triển bền vững. Việt Nam chủ động tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề toàn cầu, như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, và phòng chống dịch bệnh. Việt Nam cũng chú trọng xây dựng quan hệ đối tác tin cậy với các nước trên thế giới, thúc đẩy thương mại, đầu tư, và văn hóa. "Về đối ngoại là lúc ta phá được thế bao vây cô lập trên trường quốc tế và bắt đầu mở rộng quan hệ với khu vực và thế giới."

28/05/2025
Luận văn thạc sĩ quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại việt nam giai đoạn 1986 1996

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 - 1996 1. TÌNH HÌNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC Sau đại thắng mùa xuân 1975, nước ta bước vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi. Trước hết, do tác động của thắng lợi cách mạng Việt Nam, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới được thúc đẩy mạnh, nhiều dân tộc thuộc địa hoặc lệ thuộc giành được độc lập. Thêm vào đó, chủ nghĩa tư bản đang trong giai đoạn suy thoái kinh tế không đủ sức lũng đoạn thế giới.

Đây là cơ hội để các dân tộc bị áp bức đứng lên giành quyền làm chủ đất nước mình. Trong bối cảnh đó, Việt Nam là một dân tộc đã đánh thắng Mỹ nên nhiều nước có cảm tình và sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam tái thiết đất nước. Tuy nhiên, từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX trở đi, hệ thống xã hội chủ nghĩa bắt đầu lâm vào tình trạng khủng hoảng, nội bộ các nước nảy sinh nhiều mâu thuẫn bất đồng. Lúc này, các nước tư bản chủ nghĩa nhờ áp dụng được các thành tựu khoa học - công nghệ nên đã phục hồi và phát triển nhanh chóng.

Hai sự kiện này diễn ra đồng thời làm khoảng cách phát triển giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa càng ngày càng xa. Mỹ tiếp tục phát động chạy đua vũ trang gây căng thẳng với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; thực hiện "diễn biến hoà bình" chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới. Đối với Việt Nam, Mỹ thực hiện chính sách bao vây, cấm vận, cô lập ta trên trường quốc tế. Đồng thời, Mỹ tăng cường kích động lôi kéo người Việt Nam di tản nhằm làm mất an ninh chính trị, trật tự xã hội dẫn đến làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1996 Trong khi đó, ở nước láng giềng Campuchia, Khơme Đỏ sau khi giành được chính quyền đã thi hành chính sách diệt chủng ở trong nước và thực hiện một chính sách đối ngoại thù địch với Việt Nam. Việc Việt Nam đưa quân sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế là lý do để Mỹ và các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc nhằm cô lập, bao vây cấm vận nước ta. Trung Quốc tiến hành chiến tranh chống Việt Nam trên toàn tuyến biên giới 6 tỉnh phía Bắc, sau đó là cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt, cùng các nước ASEAN cô lập, công kích ta về chính trị, bao vây cấm vận về kinh tế, đẩy Việt Nam vào tình thế vô cùng khó khăn. Bước vào đầu những năm 80 của thế kỉ XX, trên thế giới có những thay đổi to lớn tác động sâu sắc đến các mối quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ giữa các quốc gia nói riêng.

Đó là: Cuộc chiến tranh lạnh kéo dài gần 40 năm kể từ năm 1947[29, tr. 72] giữa Liên Xô và Mỹ đã đi vào giai đoạn kết thúc. Quan hệ quốc tế từ chỗ là sự đối đầu quyết liệt giữa hai hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội đối lập đã chuyển sang thời kì đối thoại nhằm giảm chạy đua vũ trang, giải trừ quân bị, đi vào giải quyết thực chất các vấn đề nóng bỏng trong quan hệ quốc tế và tập trung tiềm lực cho việc phát triển kinh tế. Quá trình chuyển dịch từ đối đầu sang đối thoại trong quan hệ quốc tế và giữa các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau thực tế được bắt đầu từ cuối những năm 1960, đầu những năm 1970[39, tr.

45] lại càng trở thành yêu cầu cấp bách trong chiến lược của các nước, đặc biệt là các nước lớn vào giữa những năm 1980; và “điều không ngạc nhiên là những thay đổi mạnh mẽ trong chính sách đối ngoại của Liên Xô đối với bạn bè, sự hoà dịu ngày càng tăng giữa Oasingtơn và Bắc Kinh. đã tạo ra một môi trường hoàn toàn mới”[44, tr. Từ chỗ là những quốc gia có sức mạnh vượt trội trong hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, nhưng do hậu quả của cuộc chạy đua vũ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1996 trang lâu dài và tốn kém, cả Mỹ và Liên Xô ở mức độ khác nhau, đều lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng cả về kinh tế lẫn chính trị, đánh mất dần hoặc suy giảm vai trò chi phối trong từng hệ thống và trong quan hệ quốc tế. Nước Mỹ từ chỗ chiếm hơn 50% nền kinh tế thế giới vào năm 1945, đến năm 1993 chỉ còn chiếm 21% của nền kinh tế thế giới.

Riêng ngân sách quân sự của Mỹ từ năm 1980 đến 1986 đã tăng đến 50%[19, tr. Trong khi đó hai nền kinh tế Đức và Nhật Bản cộng lại cùng thời điểm năm 1993 đã chiếm đến 26% nền kinh tế thế giới[39, tr. Đối với Liên Xô, với một ngân sách quốc phòng chiếm tới 18% tổng thu nhập quốc dân[45, tr. 358] đã khiến cho nền kinh tế Liên Xô hoạt động không thể bình thường được, nó làm cho các chương trình xã hội quy mô lớn không thể tiến hành và là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng toàn diện trong xã hội Liên Xô.

Cho đến năm 1985, trong sự so sánh với Mỹ, tổng giá trị sản phẩm của Liên Xô chỉ bằng 40%, thu nhập quốc dân bằng 50%, năng suất lao động công nghiệp bằng 55%, năng suất lao động nông nghiệp chỉ bằng 20 - 25%[42, tr. Những số liệu kinh tế đó cho thấy sau một thời kì dài chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô đã làm cho sức cạnh tranh của hai nước này trong nền kinh tế thế giới giảm sút nghiêm trọng. Điều đó làm cho hai nước phải đi vào tìm kiếm các giải pháp nhằm giảm chạy đua vũ trang, giảm chi phí quốc phòng, tập trung cho phát triển và cải cách nền kinh tế. Việc các nước điều chỉnh chính sách tập trung cho phát triển kinh tế, giảm chạy đua vũ trang đã làm xuất hiện xu thế chuyển dịch từ đối đầu sang đối thoại trong quan hệ quốc tế.

Quá trình chuyển dịch từ đối đầu sang đối thoại thời kì này thể hiện trước hết ở việc hai nước lớn Liên Xô và Mỹ giảm chạy đua vũ trang, đi vào đàm phán tiến tới kí kết các hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược của hai bên. Sau khi đưa cuộc chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô lên 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1996 đến đỉnh cao trong nhiệm kì cầm quyền đầu tiên, bước vào nhiệm kì thứ hai, Tổng thống Mỹ R. Rigân bắt đầu tìm kiếm các kênh đối thoại khác nhau với Liên Xô để tiến tới các thoả thuận nhằm kiểm soát vũ khí chiến lược. Đồng thời trong giai đoạn này, ở Liên Xô cũng diễn ra những thay đổi quan trọng trong bộ máy lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước Xôviết.

Cuộc khủng hoảng về người lãnh đạo ở Liên Xô chấm dứt với sự lên nắm quyền của Tổng bí thư Goócbachốp tháng 3 năm 1985, sau khi Tổng bí thư Chécnencô qua đời. Tuy nhiên lúc này, Liên Xô “tuy đã tiến những bước dài đáng kể trong sản xuất quân sự và vũ trụ và trong các ngành công nghiệp thép, bê tông, than và dầu lửa nhưng nó thực sự không có khả năng mang lại những hứa hẹn vật chất của cuộc cách mạng cho người dân Liên Xô”[41, tr. Thất bại trong sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng và các sản phẩm công nghệ cao đã đẩy nền kinh tế Liên Xô tụt hậu xa so với các nước phương Tây chủ chốt. Thậm chí trong nhiều lĩnh vực, Liên Xô còn tụt hậu so với các nước và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Đài Loan.

trong việc ứng dụng khoa học công nghệ, sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu qủa vào sản xuất kinh tế. Cuộc khủng hoảng trầm trọng trong xã hội Liên Xô là tiền đề quyết định cho công cuộc cải tổ ở Liên Xô. Trong lĩnh vực đối ngoại, mục tiêu của Liên Xô là tìm cách chấm dứt sự đối đầu với Mỹ trong cuộc chạy đua vũ trang. Ngay sau khi Goócbachốp lên làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô và Rigân trúng cử Tổng thống nhiệm kì hai ở Mỹ, hai nước này đã tiến hành những bước đi tạo cơ sở cho các cuộc gặp cấp cao Xô - Mỹ nhằm chấm dứt sự đối đầu giữa hai nước.

Sự kiện chính yếu trong quan hệ Xô - Mỹ năm 1985 là cuộc gặp cấp cao giữa nguyên thủ hai nước tại Giơnevơ tháng 11 năm 1985. Cuộc gặp cấp cao này đã tạo tiền đề để chuyển từ trạng thái căng thẳng nguy hiểm sang tìm kiếm xây dựng các con đường bình thường hoá quan hệ giữa hai nước và lành mạnh hoá tình hình quốc tế nói 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. “Xét theo nghĩa rộng thì cuộc gặp Goócbachốp - Rigân đã kẻ một đường vạch ngang chấm dứt một khoảng thời gian nhất định, khi mà Oasingtơn trên thực tế đã bác bỏ sự đối thoại nghiêm túc với chúng ta, coi trọng sử dụng các mưu đồ gây sức ép thô bạo đối với Liên Xô hơn là đối thoại”[1, tr. Tiếp theo đó là cuộc gặp cấp cao Xô - Mỹ ở Râygiavích (Aixơlen) tháng 11 năm 1986 đưa đến kết quả là Liên Xô và Mỹ đạt được thoả thuận cắt giảm 50% vũ khí chiến lược trong vòng 5 năm, huỷ bỏ toàn bộ tên lửa tầm trung ở châu Âu, Hoa Kì đồng ý hoãn triển khai chương trình Sáng kiến phòng thủ chiến lược (SDI) cho đến năm 1991.

Và đến tháng 12 năm 1989, “sự xích lại gần nhau (giữa Liên Xô và Mỹ - TG)) đã được đánh dấu bằng cuộc gặp gỡ ở Malta giữa Tổng thống George Bush và Mikhail Gorbachev”[19, tr. 662] đưa đến “Gorbachev tuyên bố “chiến tranh lạnh” đã kết thúc, còn Bush nói đến “thời đại mới”[19, tr. 662] trong quan hệ quốc tế. Tính từ năm 1985 đến 1990, giữa Liên Xô và Mỹ đã có tới bảy cuộc gặp cấp cao đánh dấu việc hai nước này đi đến chấm dứt đối đầu và cùng nhau giải quyết thực chất những vấn đề gay cấn hàng đầu trong quan hệ quốc tế.

Xu thế chuyển dịch từ đối đầu sang đối thoại trong quan hệ quốc tế còn thể hiện qua việc các nước lớn điều chỉnh chiến lược, phối hợp với nhau trong việc giải quyết các vấn đề nóng bỏng trên thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quá Trình Điều Chỉnh Chính Sách Đối Ngoại Việt Nam (1986 - 1996)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự chuyển mình của chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn quan trọng này. Từ những thay đổi trong bối cảnh quốc tế đến việc điều chỉnh các chiến lược ngoại giao, tài liệu này nêu bật những yếu tố chính đã định hình chính sách đối ngoại của Việt Nam, đồng thời phân tích tác động của chúng đến sự phát triển kinh tế và quan hệ quốc tế của đất nước. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ hơn về quá trình này, giúp họ nắm bắt được bối cảnh lịch sử và chính trị hiện tại.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ những điểm mới về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong các văn kiện đại hội đảng cộng sản lần thứ XII 2016. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những thay đổi gần đây trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, từ đó cung cấp thêm góc nhìn về sự phát triển liên tục của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa.